Bản dịch
THA -ap129 — Ký Sự về Trưởng Lão Phaladāyaka
Phaladāyakattheraapadāna
BJT 1840Là vị giảng huấn, thông thạo về chú thuật, thông suốt về ba tập Vệ-đà, tôi sống tại khu ẩn cư ở không xa núi Hi-mã-lạp.
BJT 1841Tôi có vật cúng dường đến ngọn lửa, có các bông sen trắng và trái cây. Sau khi đặt vào trong chiếc giỏ, tôi đã treo lên ở ngọn cây.
BJT 1842Đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, có ý định tiếp độ tôi, trong khi khất thực Ngài đã đi đến gần tôi.
BJT 1843Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã dâng cúng trái cây đến đức Phật. Tôi đã là nguồn sanh lên niềm hạnh phúc, là sự đưa đến an lạc trong thời hiện tại cho chính tôi.
BJT 1844Bậc Toàn Giác có màu da vàng chói, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đứng ở trên không trung đã nói lên lời kệ này:
BJT 1845“Do sự dâng cúng trái cây này và do các nguyện lực của tác ý, (người này) không đi đến khổ cảnh trong một trăm ngàn kiếp.”
BJT 1846Do nhờ nhân tố trong sạch ấy, tôi đã thọ hưởng sự thành đạt. Sau khi từ bỏ sự hơn thua, tôi đã đạt được vị thế Bất Động.
BJT 1847Trước đây bảy trăm kiếp, tôi đã là đức vua Sumaṅgala, là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1848Bốn (tuệ) phân tích, ―(như trên)― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Phaladāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
7. Phaladāyakattheraapadānaṃ
7. The Apadāna of the Elder Phaladāyaka
7. Tiểu sử của trưởng lão Phaladāyaka
75.
75.
75.
‘‘Ajjhāyako mantadharo, tiṇṇaṃ vedāna pāragū;
Himavantassāvidūre, vasāmi assame ahaṃ.
“A reciter and bearer of the sacred texts, one who had mastered the three Vedas, I lived in a hermitage not far from the Himavanta.”
Là người học tập, là người ghi nhớ các câu thần chú, là người thông suốt ba tập Vệ-đà, tôi sống ở trong am thất không xa dãy Hymalaya.
76.
76.
76.
‘‘Aggihuttañca me atthi, puṇḍarīkaphalāni ca;
Puṭake nikkhipitvāna, dumagge laggitaṃ mayā.
“I maintained a fire sacrifice, and I had white mangoes. Having placed them in a container, I hung it on the top of a tree.”
Tôi cũng có việc thờ lửa, và các quả xoài trắng. Sau khi đã đặt vào trong túi, (túi ấy) đã được tôi treo ở trên ngọn cây.
77.
77.
77.
‘‘Padumuttaro lokavidū, āhutīnaṃ paṭiggaho;
Mamuddharitukāmo so, bhikkhanto mamupāgami.
“Padumuttara, the Knower of the World, the worthy recipient of offerings, wishing to uplift me, approached me while on his alms round.”
Đức Phật Padumuttara, bậc Toàn Giác, bậc xứng đáng thọ nhận các vật cúng dường, vị ấy có mong muốn tế độ tôi, trong khi đang đi khất thực đã đi đến gần tôi.
78.
78.
78.
‘‘Pasannacitto sumano, phalaṃ buddhassadāsahaṃ;
Vittisañjanano mayhaṃ, diṭṭhadhammasukhāvaho.
“With a devoted and gladdened mind, I gave the fruit to the Buddha. It generated joy for me and brought happiness in this very life.”
Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã dâng cúng quả cây đến đức Phật. (Việc ấy) là sự mang lại an lạc trong hiện tại, là sự làm phát sanh niềm hoan hỷ cho tôi.
79.
79.
79.
‘‘Suvaṇṇavaṇṇo sambuddho, āhutīnaṃ paṭiggaho;
Antalikkhe ṭhito satthā, imaṃ gāthaṃ abhāsatha.
“The Perfectly Enlightened One of golden complexion, the worthy recipient of offerings, the Teacher, stood in the sky and spoke this verse:”
Bậc Chánh Đẳng Giác có màu da vàng ròng, là bậc xứng đáng thọ nhận các vật cúng dường, bậc Đạo Sư đang đứng ở giữa hư không đã nói lên câu kệ này:
80.
80.
80.
‘‘‘Iminā phaladānena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Kappānaṃ satasahassaṃ, duggatiṃ nupapajjasi’.
“‘By this gift of fruit, and by this volition and aspiration, for a hundred thousand eons, you will not go to a woeful state.’”
‘Do bởi sự dâng cúng quả cây này và do bởi các tâm tư và nguyện vọng, trong một trăm ngàn kiếp, ngươi sẽ không sanh vào khổ cảnh.’
81.
81.
81.
‘‘Teneva sukkamūlena, anubhotvāna sampadā;
Pattomhi acalaṃ ṭhānaṃ, hitvā jayaparājayaṃ.
“By that very wholesome root, having experienced prosperity, I have attained the unshakable state, having abandoned victory and defeat.”
Chỉ do bởi cội rễ trong sạch ấy, sau khi đã hưởng thụ các tài sản, sau khi đã từ bỏ sự chiến thắng và thất bại, tôi đã đạt đến trạng thái không còn lay chuyển.
82.
82.
82.
‘‘Ito sattasate kappe, rājā āsiṃ sumaṅgalo;
Sattaratanasampanno cakkavattī mahabbalo.
“Seven hundred eons from this one, I was King Sumaṅgala, endowed with the seven treasures, a wheel-turning monarch of great power.”
Cách đây bảy trăm kiếp, tôi đã là vị vua tên Sumaṅgala, là đấng Chuyển Luân Vương có được bảy báu vật, có nhiều năng lực.
83.
83.
83.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
“The four analytical knowledges... the teaching of the Buddha has been fulfilled.”
Bốn Tuệ phân tích ... (vân vân) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā phaladāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Phaladāyaka spoke these verses.
Như vậy, quả thật trưởng lão Phaladāyaka đã nói những câu kệ này.
Phaladāyakattherassāpadānaṃ sattamaṃ.
The seventh Apadāna of the Elder Phaladāyaka is concluded.
Phần tiểu sử của trưởng lão Phaladāyaka là phần thứ bảy.