Bản dịch
THA -ap128 — Ký Sự về Trưởng Lão Kusumāsaniya
Kusumāsaniyattheraapadāna
BJT 1830Tôi đã là vị Bà-la-môn ở thành phố Dhaññavatī về (khoa) tướng mạo, về truyền thống gồm cả văn tự và nghi thức.
BJT 1831Là người thông suốt ba tập Vệ-đà, tôi được rành rẽ về điềm báo hiệu, biết về từ ngữ, về văn phạm, và tôi đã chỉ dạy các học trò về chú thuật.
BJT 1832Có ý muốn dâng tặng vật hiến cúng trong khi đoàn tụ với cha mẹ, tôi đã đặt năm bó sen xanh ở trên chiếc ghế nhỏ.
BJT 1833Khi ấy, đức Thế Tôn Vipassī, đấng Nhân Ngưu, dẫn đầu Hội Chúng tỳ khưu đi đến, trong lúc làm cho tất cả các phương rực sáng.
BJT 1834Sau khi sắp xếp chỗ ngồi, tôi đã thỉnh mời bậc Đại Hiền Trí. Sau khi trải ra (các) bông hoa ấy, tôi đã rước (đức Phật) đến ngôi nhà của mình.
BJT 1835Được tịnh tín, tôi đã tự tay mình dâng đến đức Phật phần vật thực đã có sẵn ở trong nhà của tôi.
BJT 1836Biết được thời điểm Ngài đã thọ thực xong, tôi đã dâng cúng bó bông hoa. Đấng Toàn Tri, sau khi nói lời tùy hỷ, đã ra đi, mặt hướng phía bắc.
BJT 1837Kể từ khi tôi đã dâng cúng bông hoa trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng bông hoa.
BJT 1838Vào kiếp kế liền trước đây, tôi đã là đức vua Varadassana, là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1839Bốn (tuệ) phân tích, ―(như trên)― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Kusumāsaniyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Kusumāsaniya là phần thứ sáu.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
6. Kusumāsaniyattheraapadānaṃ
6. The Apadāna of the Elder Kusumāsaniya
6. Tiểu sử của trưởng lão Kusumāsaniya
65.
65.
65.
‘‘Nagare dhaññavatiyā, ahosiṃ brāhmaṇo tadā;
Lakkhaṇe itihāse ca, sanighaṇḍusakeṭubhe.
“In the city of Dhaññavatī, I was a brahmin at that time, skilled in the science of bodily marks, in history, and in the Nighaṇḍu with the Keṭubha.”
Khi ấy, ở tại thành phố Dhaññavatī, tôi đã là vị Bà-la-môn (am tường) về khoa tướng số, về lịch sử, cùng với từ vựng học và thi pháp học.
66.
66.
66.
‘‘Padako veyyākaraṇo, nimittakovido ahaṃ;
Mante ca sisse vācesiṃ, tiṇṇaṃ vedāna pāragū.
“I was skilled in the analysis of words, a grammarian, and an expert in omens; having mastered the three Vedas, I taught the sacred texts to my disciples.”
Tôi là người phân tích từ cú, là nhà ngữ pháp, là người am tường về các điềm triệu. Là người thông suốt ba tập Vệ-đà, tôi đã giảng dạy các câu thần chú cho các đệ tử.
67.
67.
67.
‘‘Pañca uppalahatthāni, piṭṭhiyaṃ ṭhapitāni me;
Āhutiṃ yiṭṭhukāmohaṃ, pitumātusamāgame.
“Wishing to make an offering at the gathering of my father and mother, I had placed five handfuls of lotuses upon a stool.”
Trong buổi hội họp của cha và mẹ, tôi là người có mong muốn thực hiện sự cúng dường, năm đóa hoa súng đã được tôi đặt ở trên ghế thấp.
68.
68.
68.
‘‘Tadā vipassī bhagavā, bhikkhusaṅghapurakkhato;
Obhāsento disā sabbā, āgacchati narāsabho.
“Then the Blessed One Vipassī, the bull among men, attended by the Saṅgha of bhikkhus, illuminating all directions, approached.”
Khi ấy, đấng Thế Tôn Vipassī, bậc Ngưu Vương giữa loài người, được hội chúng Tỳ khưu đi theo hộ tống, trong khi đang chiếu sáng tất cả các phương hướng, đã đi đến.
69.
69.
69.
‘‘Āsanaṃ paññapetvāna, nimantetvā mahāmuniṃ;
Santharitvāna taṃ pupphaṃ, abhinesiṃ sakaṃ gharaṃ.
“Having prepared a seat and invited the Great Sage, I spread those flowers and led him to my own house.”
Sau khi đã chuẩn bị chỗ ngồi và đã thỉnh mời bậc Đại ẩn sĩ, sau khi đã trải các đóa hoa ấy, tôi đã dẫn ngài về nhà của mình.
70.
70.
70.
‘‘Yaṃ me atthi sake gehe, āmisaṃ paccupaṭṭhitaṃ;
Tāhaṃ buddhassa pādāsiṃ, pasanno sehi pāṇibhi.
“Whatever material offering was prepared in my own home, that I gave to the Buddha with a devoted mind and with my own hands.”
Vật thực nào đã được chuẩn bị sẵn có ở trong nhà của tôi, vật thực ấy tôi đã dâng cúng đến đức Phật với tâm tịnh tín, bằng chính đôi tay của mình.
71.
71.
71.
‘‘Bhuttāviṃ kālamaññāya, pupphahatthamadāsahaṃ;
Anumoditvāna sabbaññū, pakkāmi uttarāmukho.
“Knowing it was the time after the meal, I offered a handful of flowers. The All-Knowing One, having expressed his appreciation, departed facing north.”
Sau khi biết được thời điểm ngài đã dùng bữa xong, tôi đã dâng cúng đóa hoa. Bậc Toàn Giác sau khi đã tùy hỷ, đã ra đi hướng về phương bắc.
72.
72.
72.
‘‘Ekanavutito kappe, yaṃ pupphamadadiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, pupphadānassidaṃ phalaṃ.
“Ninety-one eons from this one, when I gave that flower, I have known no woeful state since. This is the fruit of the flower offering.”
Kể từ kiếp thứ chín mươi mốt, vào lúc tôi đã dâng cúng đóa hoa, tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của việc dâng cúng hoa.
73.
73.
73.
‘‘Anantaraṃ ito kappe, rājāhuṃ varadassano;
Sattaratanasampanno, cakkavattī mahabbalo.
“In the eon immediately following this one, I was a king of excellent appearance, endowed with the seven treasures, a wheel-turning monarch of great power.”
Ở kiếp kế tiếp sau đây, tôi đã là vị vua tên Varadassana, là đấng Chuyển Luân Vương có được bảy báu vật, có nhiều năng lực.
74.
74.
74.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
“The four analytical knowledges... the teaching of the Buddha has been fulfilled.”
Bốn Tuệ phân tích ... (vân vân) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā kusumāsaniyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Kusumāsaniya spoke these verses.
Như vậy, quả thật trưởng lão Kusumāsaniya đã nói những câu kệ này.
Kusumāsaniyattherassāpadānaṃ chaṭṭhaṃ.
The sixth Apadāna of the Elder Kusumāsaniya is concluded.
Phần tiểu sử của trưởng lão Kusumāsaniya là phần thứ sáu.