Bản dịch
THA -ap125 — Ký Sự về Trưởng Lão Pāyāsadāyaka
3 Pāyasadāyakattheraapadāna
BJT 1791(Tôi đã nhìn thấy) bậc Toàn Giác có màu da vàng chói, có ba mươi hai hảo tướng dẫn đầu Hội Chúng tỳ khưu đang đi ra khỏi khu rừng bao la.
BJT 1792Có ý muốn dâng tặng vật hiến cúng, tôi đây đã chuẩn bị món cơm sữa ở trong cái đĩa kim loại vô cùng quý giá rồi đã đem dâng tặng bậc có năng lực.
BJT 1793Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu đã khéo léo bước lên con đường kinh hành ở bầu trời trên không trung.
BJT 1794Và sau khi nhìn thấy điều phi thường kỳ diệu khiến lông rởn ốc ấy, sau khi đặt chiếc đĩa kim loại xuống tôi đã đảnh lễ (đức Phật) Vipassī.
BJT 1795“Bạch đấng Toàn Tri, Ngài là vị Trời ở (thế gian có cả) chư Thiên cùng nhân loại. Bạch đấng Đại Hiền Trí, vì lòng thương tưởng xin Ngài hãy thọ nhận.”
BJT 1796Biết được ý định của tôi, đức Thế Tôn, đấng Toàn Tri, bậc Lãnh Đạo Thế Gian, đấng Đạo Sư, bậc Đại Hiền Trí ở trên đời đã thọ nhận.
BJT 1797Kể từ khi tôi đã cúng dường vật thí trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của món cơm sữa.
BJT 1798Trước đây bốn mươi mốt kiếp, tôi đã là vị Sát-đế-lỵ tên Buddha, là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1799Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Pāyāsadāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
3. Pāyasadāyakattheraapadānaṃ
3. The Apadāna of the Elder Pāyasadāyaka
3. Thí dụ về Trưởng lão Pāyasadāyaka
26.
26.
26.
‘‘Suvaṇṇavaṇṇo sambuddho, bāttiṃsavaralakkhaṇo;
Pavanā † abhinikkhanto, bhikkhusaṅghapurakkhato †.
The Fully Enlightened One, golden in complexion, possessing the thirty-two excellent marks, went forth from the grove, escorted by the community of monks.
Bậc Chánh Đẳng Giác, có màu da như vàng ròng, có ba mươi hai tướng tốt, đã đi ra khỏi khu rừng, được Tăng chúng đi theo sau.
27.
27.
27.
‘‘Mahaccā † kaṃsapātiyā, vaḍḍhetvā pāyasaṃ † ahaṃ;
Āhutiṃ yiṭṭhukāmo so, upanesiṃ baliṃ ahaṃ.
Having served milk-rice in a large golden bowl, I, desiring to make a great offering, brought forth the oblation.
Ta, sau khi đã múc cháo sữa vào trong một cái bát lớn bằng đồng, mong muốn thực hiện việc cúng dường, ta đã mang đến vật phẩm tế lễ.
28.
28.
28.
‘‘Bhagavā tamhi samaye, lokajeṭṭho narāsabho;
Caṅkamaṃ susamārūḷho, ambare anilāyane.
At that time, the Blessed One, foremost in the world, the bull among men, had gracefully ascended to a walkway in the sky, the abode of the wind.
Vào lúc ấy, đức Thế Tôn, bậc Tối Thắng trong thế gian, bậc Ngưu Vương trong loài người, đã đi lên một cách tốt đẹp trên đường kinh hành ở trên không trung, nơi không có chỗ tựa.
29.
29.
29.
‘‘Tañca acchariyaṃ disvā, abbhutaṃ lomahaṃsanaṃ;
Ṭhapayitvā kaṃsapātiṃ, vipassiṃ abhivādayiṃ.
Having seen that wonder, unprecedented and hair-raising, I set down the golden bowl and paid homage to Vipassī.
Và sau khi nhìn thấy điều kỳ diệu, phi thường, và dựng tóc gáy ấy, ta đã đặt cái bát bằng đồng xuống và đảnh lễ đức Phật Vipassī.
30.
30.
30.
‘‘Tuvaṃ devosi † sabbaññū, sadeve sahamānuse;
Anukampaṃ upādāya, paṭigaṇha mahāmuni.
You are the All-Knowing One, a god in the world with its gods and humans. O Great Sage, out of compassion, please accept this.
Ngài là vị trời, bậc Toàn Tri, trong thế giới cùng với chư thiên và nhân loại. Hỡi bậc Đại Mâu-ni, do lòng bi mẫn, xin Ngài hãy thọ nhận.
31.
31.
31.
‘‘Paṭiggahesi bhagavā, sabbaññū lokanāyako;
Mama saṅkappamaññāya, satthā loke mahāmuni †.
The Blessed One, the All-Knowing One, the World-Leader, the Teacher, the Great Sage in the world, accepted it, having understood my intention.
Đức Thế Tôn, bậc Toàn Tri, đấng Lãnh Đạo Thế Gian, bậc Đạo Sư trong thế gian, bậc Đại Mâu-ni, sau khi biết được ý định của ta, đã thọ nhận.
32.
32.
32.
‘‘Ekanavutito kappe, yaṃ dānamadadiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, pāyasassa † idaṃ phalaṃ.
Ninety-one eons ago, when I gave that gift, I have known no woeful state since then. This is the fruit of the milk-rice.
Vào kiếp thứ chín mươi mốt kể từ đây, khi ấy ta đã thực hiện việc bố thí ấy. (Kể từ đó), ta không còn biết đến đường ác. Đây là quả của (việc cúng dường) cháo sữa.
33.
33.
33.
‘‘Ekatālīsito kappe, buddho nāmāsi khattiyo;
Sattaratanasampanno, cakkavattī mahabbalo.
Forty-one eons ago, I was a khattiya named Buddha, a wheel-turning monarch of great power, endowed with the seven treasures.
Vào kiếp thứ bốn mươi mốt kể từ đây, đã có một vị vua tên là Buddha, là bậc Chuyển Luân Vương có đại oai lực, được trang bị đầy đủ bảy báu vật.
34.
34.
34.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six supernormal knowledges have been realized. The teaching of the Buddha has been fulfilled.
Bốn Tuệ phân tích… (vân vân)… giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā pāyasadāyako † thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed, the venerable Pāyasadāyaka Thera spoke these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Pāyasadāyaka đã nói những câu kệ này.
Pāyasadāyakattherassāpadānaṃ tatiyaṃ.
The Third Apadāna of the Elder Pāyasadāyaka is concluded.
Phần Thí dụ của Trưởng lão Pāyasadāyaka, chương thứ ba.