Bản dịch
THA -ap124 — Ký Sự về Trưởng Lão Pupphathūpiya
Pupphathūpiyattheraapadāna
BJT 1776Ở không xa núi Hi-mã-lạp có ngọn núi tên là Kukkuṭa. Ở trung tâm của ngọn núi ấy có vị Bà-la-môn thông thạo về chú thuật sinh sống.
BJT 1777Có năm ngàn người học trò luôn luôn vây quanh tôi. Các vị ấy đã là những người (ngủ) thức dậy trước (tôi) và được tự tin vào các chú thuật.
BJT 1778“Hỡi người thầy của chúng con, đức Phật đã hiện khởi ở trên thế gian, xin thầy biết rõ về điều ấy. Đấng Chiến Thắng cao quý có ba mươi hai hảo tướng và tám mươi tướng phụ, có vầng hào quang tợ như mặt trời chiếu sáng.”
BJT 1779Sau khi lắng nghe lời nói của những người học trò, vị Bà-la-môn thông thạo về chú thuật đã rời khu ẩn cư và hỏi những người học trò phương hướng về khu vực mà đấng Đại Hùng bậc Lãnh Đạo Thế Gian cư ngụ.
BJT 1780Tôi đã lễ bái phương hướng ấy (hướng đến) đấng Chiến Thắng, bậc không người đối thủ. Với tâm phấn chấn, với ý vui mừng, tôi đã tôn vinh đức Như Lai ấy.
BJT 1781“Này các đệ tử, hãy đến. Chúng ta sẽ đi và sẽ diện kiến đức Như Lai. Sau khi đảnh lễ ở bàn chân của bậc Đạo Sư, chúng ta sẽ lắng nghe Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng.”
BJT 1782Tôi đã ra đi một mình và tôi đã lâm bệnh. Trong khi bị hành hạ bởi căn bệnh, tôi đã đi đến nhà nghỉ chân để nằm nghỉ.
BJT 1783Sau khi triệu tập tất cả những người học trò lại, tôi đã hỏi họ về đức Như Lai: “Đức độ của đấng Bảo Hộ Thế Gian, bậc có sự Giác Ngộ tuyệt đối, là như thế nào?”
BJT 1784Được tôi hỏi, các vị ấy đã trả lời theo như đã nhìn thấy. Các vị đã mô tả đức Phật tối thượng ấy một cách kính trọng như Ngài đang ở trước mặt của tôi.
BJT 1785Sau khi lắng nghe lời nói của họ, tôi đã làm cho tâm của mình được tịnh tín. Sau khi thực hiện ngôi bảo tháp bằng các bông hoa, tôi đã mệnh chung ở tại nơi ấy.
BJT 1786Sau khi hỏa táng thi thể của tôi, các vị ấy đã đi đến gặp đức Phật. Họ đã chắp tay lên và đã đảnh lễ bậc Đạo Sư.
BJT 1787Sau khi thực hiện ngôi bảo tháp bằng các bông hoa dành cho đức Thiện Thệ bậc Đại Ẩn Sĩ, tôi đã không đi đến khổ cảnh trong một trăm ngàn kiếp.
BJT 1788(Trước đây) bốn mươi bốn ngàn kiếp, mười sáu vị Sát-đế-lỵ (cùng) tên Aggisama đã là các đấng Chuyển Luân Vương có oai lực lớn lao.
BJT 1789(Trước đây) hai mươi ngàn kiếp, ba mươi tám vị lãnh chúa (cùng) tên Ghatāsana đã là các đấng Chuyển Luân Vương.
BJT 1790Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Pupphathūpiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
2. Pupphathūpiyattheraapadānaṃ
2. The Apadāna of the Elder Pupphathūpiya
2. Phẩm sự tích của Trưởng lão Pupphathūpiya
10.
10.
10.
‘‘Himavantassāvidūre, kukkuro nāma † pabbato;
Vemajjhe tassa vasati, brāhmaṇo mantapāragū.
“Not far from the Himālaya, there is a mountain named Kukkura. In its center dwells a brahmin who has mastered the mantras.
Không xa dãy Hima, có ngọn núi tên là Kukkura. Ở giữa ngọn núi ấy có vị Bà-la-môn thông suốt các câu chú đang trú ngụ.
11.
11.
11.
‘‘Pañca sissasahassāni, parivārenti maṃ sadā;
Pubbuṭṭhāyī ca te āsuṃ, mantesu ca visāradā.
“Five thousand disciples always surround me. They were early-risers and were skilled in the mantras.
Năm ngàn vị đệ tử luôn luôn vây quanh tôi. Và họ là những người dậy sớm, và là những người thành thạo các câu chú.
12.
12.
12.
‘‘Buddho loke samuppanno, taṃ vijānātha no bhavaṃ;
Asītibyañjanānassa, bāttiṃsavaralakkhaṇā.
“‘A Buddha has arisen in the world; Sir, do you not know of him? His are the eighty minor characteristics and the thirty-two excellent major marks.
‘Một đức Phật đã sanh khởi ở thế gian, ngài có biết về vị ấy không? Vị ấy có tám mươi vẻ đẹp phụ và ba mươi hai tướng tốt của bậc đại nhân.’
13.
13.
13.
‘‘Byāmappabho jinavaro, ādiccova virocati;
Sissānaṃ vacanaṃ sutvā, brāhmaṇo mantapāragū.
“‘The excellent Conqueror has a fathom-wide radiance; he shines like the sun.’ Having heard the words of his disciples, the brahmin who had mastered the mantras…
‘Bậc Thắng Giả Tối Thượng có hào quang một tầm, tỏa sáng như mặt trời.’ Sau khi nghe lời nói của các đệ tử, vị Bà-la-môn thông suốt các câu chú (đã hỏi).
14.
14.
14.
‘‘Assamā abhinikkhamma, disaṃ pucchati sissake †;
Yamhi dese mahāvīro, vasati lokanāyako.
“Having gone forth from the hermitage, he asked his disciples the direction, ‘In which region does the Great Hero, the Leader of the World, dwell?’
Sau khi đi ra khỏi trú xứ, vị ấy hỏi các đệ tử về phương hướng: ‘Bậc Đại Hùng, bậc Lãnh Đạo Thế Gian đang trú ngụ ở xứ sở nào?’
15.
15.
15.
‘‘Tāhaṃ disaṃ namassissaṃ, jinaṃ appaṭipuggalaṃ;
Udaggacitto sumano, pūjesiṃ taṃ tathāgataṃ.
“‘I will pay homage to that direction; I will pay homage to the Conqueror, the Incomparable Person. With an uplifted mind and joyful heart, I will worship that Tathāgata.
Ta sẽ đảnh lễ phương hướng ấy, (ta sẽ đảnh lễ) bậc Chiến Thắng, đấng Vô Song. Với tâm phấn khởi, ý hoan hỷ, ta đã cúng dường đến đấng Như Lai ấy.
16.
16.
16.
‘‘Etha sissā gamissāma, dakkhissāma tathāgataṃ;
Vanditvā satthuno pāde, sossāma jinasāsanaṃ.
“‘Come, disciples, let us go; we shall see the Tathāgata. Having paid homage to the Teacher’s feet, we shall hear the Conqueror’s teaching.’
Này các đệ tử, hãy đến đây, chúng ta sẽ đi, chúng ta sẽ diện kiến đấng Như Lai. Sau khi đảnh lễ đôi chân của bậc Đạo Sư, chúng ta sẽ lắng nghe giáo pháp của bậc Chiến Thắng.
17.
17.
17.
‘‘Ekāhaṃ abhinikkhamma, byādhiṃ paṭilabhiṃ ahaṃ;
Byādhinā pīḷito santo, sālaṃ vāsayituṃ gamiṃ.
“Having gone forth for one day, I contracted a disease. Being afflicted by the disease, I went to a hall to stay.
Sau khi ra đi được một ngày, ta đã bị mắc bệnh. Bị cơn bệnh hành hạ, ta đã đi đến một ngôi nhà nghỉ để trú ngụ.
18.
18.
18.
‘‘Sabbe sisse samānetvā, apucchiṃ te tathāgataṃ;
Kīdisaṃ lokanāthassa, guṇaṃ paramabuddhino.
“Having gathered all the disciples, I asked them about the Tathāgata: ‘Of what kind is the virtue of the Leader of the World, the supremely enlightened one?’
Sau khi tập hợp tất cả các đệ tử, ta đã hỏi họ về đấng Như Lai: ‘Ân đức của đấng Lãnh Đạo Thế Gian, của bậc Toàn Giác Tối Thượng là như thế nào?’
19.
19.
19.
‘‘Te me puṭṭhā viyākaṃsu, yathā dassāvino tathā;
Sakkaccaṃ buddhaseṭṭhaṃ taṃ, desesuṃ † mama sammukhā.
“Those who were asked by me answered according to what they had seen. They respectfully described that most excellent Buddha in my presence.
Họ, những người đã được ta hỏi, đã giải thích đúng theo như họ đã thấy. Họ đã trình bày một cách kính cẩn về bậc Phật Tối Thượng ấy ở trước mặt ta.
20.
20.
20.
‘‘Tesāhaṃ vacanaṃ sutvā, sakaṃ cittaṃ pasādayiṃ;
Pupphehi thūpaṃ katvāna, tattha kālaṅkato ahaṃ.
“Having heard their words, I inspired confidence in my own mind. Having made a stūpa with flowers, I passed away there.
Sau khi nghe lời của họ, ta đã làm cho tâm mình được tịnh tín. Sau khi dùng các loài hoa làm thành bảo tháp, ta đã mệnh chung tại nơi ấy.
21.
21.
21.
‘‘Te me sarīraṃ jhāpetvā, agamuṃ buddhasantikaṃ;
Añjaliṃ paggahetvāna, satthāramabhivādayuṃ.
“They, having cremated my body, went into the Buddha’s presence. Having raised their joined palms, they paid homage to the Teacher.
Họ, sau khi hỏa táng thân xác của ta, đã đi đến nơi đức Phật. Sau khi chắp tay lên, họ đã đảnh lễ bậc Đạo Sư.
22.
22.
22.
‘‘Pupphehi thūpaṃ katvāna, sugatassa mahesino;
Kappānaṃ satasahassaṃ, duggatiṃ nupapajjahaṃ.
“Because I made a stūpa of flowers for the Well-Gone One, the Great Sage, for one hundred thousand aeons I was not reborn in a woeful state.”
Do đã dùng các loài hoa làm thành bảo tháp của đấng Thiện Thệ, bậc Đại Ẩn Sĩ, trong một trăm ngàn kiếp, ta đã không sanh vào đường ác.
23.
23.
23.
‘‘Cattālīsasahassamhi, kappe soḷasa khattiyā;
Nāmenaggisamā nāma, cakkavattī mahabbalā.
“In the forty-thousandth aeon from now, there were sixteen khattiyas, wheel-turning monarchs of great power, named Aggisama.
Vào kiếp thứ bốn mươi ngàn (kể từ nay), đã có mười sáu vị vua Chuyển Luân Vương, có đại oai lực, tên là Aggisama.
24.
24.
24.
‘‘Vīsakappasahassamhi, rājāno cakkavattino;
Ghatāsanasanāmāva, aṭṭhattiṃsa mahīpatī.
“In the twenty-thousandth aeon from now, there were thirty-eight great rulers, wheel-turning kings, who had the name Ghatāsana.
Vào kiếp thứ hai mươi ngàn (kể từ nay), đã có ba mươi tám vị vua, là các bậc Chuyển Luân Vương, các vị chúa tể, có cùng tên là Ghatāsana.
25.
25.
25.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
“The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six supernormal knowledges have been realized. The Buddha’s teaching has been done.”
Bốn Tuệ phân tích… (vân vân)… giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā pupphathūpiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the venerable Pupphathūpiya Thera spoke these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Pupphathūpiya đã nói những câu kệ này.
Pupphathūpiyattherassāpadānaṃ dutiyaṃ.
The Second Apadāna of the Elder Pupphathūpiya is concluded.
Phần Thí dụ của Trưởng lão Pupphathūpiya, chương thứ hai.