Bản dịch
THA -ap117 — Ký Sự về Trưởng Lão Suvaṇṇapupphiya
Suvaṇṇapupphiyattheraapadāna
BJT 1716Đức Thế Tôn tên Vipassī, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, đang ngồi thuyết giảng đạo lộ Bất Tử cho tập thể dân chúng.
BJT 1717Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của Ngài là đấng Chúa Tể của loài người như thế ấy, tôi đã dâng lên đức Phật bốn bông hoa bằng vàng.
BJT 1718Khi ấy, đã có mái che bằng vàng (che) khắp cả hội chúng. Hào quang của đức Phật và vẻ sáng của vàng đã là nguồn ánh sáng bao la.
BJT 1719Với tâm phấn chấn, với ý vui mừng, tràn đầy niềm phấn khởi, tôi đã chắp tay lên. Tôi đã là nguồn sanh lên niềm hạnh phúc, là sự đưa đến an lạc trong thời hiện tại cho những người ấy.
BJT 1720Sau khi thỉnh cầu bậc Toàn Giác và đảnh lễ bậc có sự hành trì tốt đẹp, sau khi làm cho sanh khởi niềm hưng phấn, tôi đã đi về chỗ trú ngụ của mình.
BJT 1721Bước vào chỗ ngụ, tôi đã tưởng nhớ đến đức Phật tối thượng. Do sự tịnh tín ấy ở trong tâm, tôi đã sanh lên cõi trời Đẩu Suất.
BJT 1722(Kể từ khi) tôi đã dâng lên bông hoa trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 1723Trước đây bốn mươi ba kiếp, đã có mười sáu vị vua tên Nemisammata, là các đấng Chuyển Luân Vương có oai lực lớn lao.
BJT 1724Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Suvaṇṇapupphiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
5. Suvaṇṇapupphiyattheraapadānaṃ
5. The Apadāna of the Elder Suvaṇṇapupphiya.
5. Thiên sử về trưởng lão Suvaṇṇapupphiya
40.
40.
40.
‘‘Vipassī nāma bhagavā, lokajeṭṭho narāsabho;
Nisinno janakāyassa, desesi amataṃ padaṃ.
The Blessed One named Vipassī, chief of the world, a bull among men, being seated, taught the deathless state to the assembly of people.
“Đức Thế Tôn tên là Vipassī, bậc Trưởng Thượng của thế gian, bậc Ngưu Vương của nhân loại, trong khi đang ngồi, đã thuyết giảng trạng thái bất tử đến cho hội chúng.”
41.
41.
41.
‘‘Tassāhaṃ dhammaṃ sutvāna, dvipadindassa tādino;
Soṇṇapupphāni cattāri, buddhassa abhiropayiṃ.
Having heard the Dhamma of that lord of bipeds, one of such quality, I offered four golden flowers to the Buddha.
“Sau khi đã nghe được lời dạy của vị ấy, bậc Tādin, đấng Tối Thượng của các loài hai chân, tôi đã dâng cúng bốn đóa hoa bằng vàng đến đức Phật.”
42.
42.
42.
‘‘Suvaṇṇacchadanaṃ āsi, yāvatā parisā tadā;
Buddhābhā ca suvaṇṇābhā, āloko vipulo ahu.
As far as the assembly extended at that time, a golden canopy appeared. Due to the Buddha's radiance and the golden radiance, a vast light arose.
Lúc bấy giờ, có mái che bằng vàng bao trùm khắp hội chúng; do hào quang của đức Phật và do ánh sáng của vàng, ánh sáng đã trở nên rộng lớn.
43.
43.
43.
‘‘Udaggacitto sumano, vedajāto katañjalī;
Vittisañjanano tesaṃ, diṭṭhadhammasukhāvaho.
With an uplifted and joyful mind, with delight born of rapture, I stood with hands raised in reverence, engendering delight for them and bringing happiness visible in this very life.
Với tâm phấn khởi, ý hoan hỷ, sanh niềm vui thích, tôi chắp tay lại; tôi là người tạo ra sự vui thích và đem lại sự an lạc trong hiện tại cho họ (hội chúng).
44.
44.
44.
‘‘Āyācitvāna sambuddhaṃ, vanditvāna ca subbataṃ;
Pāmojjaṃ janayitvāna, sakaṃ bhavanupāgamiṃ.
Having asked leave of the Fully Enlightened One and paid homage to him of good vows, and having generated great joy, I went to my own dwelling.
Sau khi đã xin phép đấng Chánh Đẳng Giác và sau khi đã đảnh lễ bậc có giới hạnh tốt đẹp, sau khi đã làm phát sanh niềm vui mừng hớn hở, tôi đã đi về trú xứ của mình.
45.
45.
45.
‘‘Bhavane upaviṭṭhohaṃ, buddhaseṭṭhaṃ anussariṃ;
Tena cittappasādena, tusitaṃ upapajjahaṃ.
Seated in my dwelling, I repeatedly recollected the most excellent Buddha. Through that mental confidence, I was reborn in the Tusita realm.
Tôi, người đang ngồi trong trú xứ, đã tùy niệm đến đức Phật tối thượng. Do nhờ sự trong sạch của tâm ấy, tôi đã được sanh lên cõi trời Tusita (Đâu-suất).
46.
46.
46.
‘‘Ekanavutito kappe, yaṃ pupphamabhiropayiṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Ninety-one kappas ago, when I offered that flower, I have not known a woeful state since then; this is the fruit of worshipping the Buddha.
Kể từ kiếp thứ chín mươi mốt, khi tôi đã dâng cúng đóa hoa ấy, tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
47.
47.
47.
‘‘Soḷasāsiṃsu rājāno, nemisammatanāmakā;
Tetālīse ito kappe, cakkavattī mahabbalā.
Forty-three kappas ago, there were sixteen wheel-turning kings of great power, named Nemisammata.
Trong kiếp thứ bốn mươi ba kể từ đây, đã có mười sáu vị vua tên là Nemisammata, các vị Chuyển Luân Vương có đại oai lực.
48.
48.
48.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges... the Buddha’s Dispensation has been fulfilled.
Bốn Tuệ Phân Tích ... (v.v.) ... tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā suvaṇṇapupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Suvaṇṇapupphiya Thera spoke these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Suvaṇṇapupphiya đã nói những câu kệ này.
Suvaṇṇapupphiyattherassāpadānaṃ pañcamaṃ.
The fifth Apadāna: that of the Elder Suvaṇṇapupphiya.
Apadāna của Trưởng lão Suvaṇṇapupphiya, câu chuyện thứ năm.