Bản dịch
THA -ap114 — Ký Sự về Trưởng Lão Sumaṅgala
Sumaṅgalattheraapadāna
BJT 1687Đấng Chiến Thắng cao quý Atthadassī, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu sau khi rời khỏi trú xá đã đi đến hồ nước.
BJT 1688Sau khi tắm và uống nước, bậc Toàn Giác, đức Thế Tôn, đã khoác lên một tấm y rồi đã đứng ở tại nơi ấy, quan sát khắp các phương.
BJT 1689Tôi đã đi vào cung điện và đã nhìn thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian. Tôi đã trở nên mừng rỡ, với tâm mừng rỡ khi ấy tôi đã vỗ tay.
BJT 1690Đức Phật đang chói sáng tợ như mặt trời, đang tỏa sáng tợ như khối vàng. Tôi đã ra sức trong điệu vũ lời ca và năm loại nhạc khí (cúng dường Ngài).
BJT 1691Nơi chốn nào tôi đi tái sanh, dầu là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, tôi vượt trội tất cả chúng sanh, danh tiếng của tôi là rộng khắp.
BJT 1692“Bạch đấng Siêu Nhân, con kính lễ Ngài! Bạch đấng Tối Thượng Nhân, con kính lễ Ngài! Bạch bậc Hiền Trí, sau khi làm cho bản thân được hoan hỷ Ngài đã làm cho những người khác được hoan hỷ. ”
BJT 1693Sau khi xem xét rồi ngồi xuống, sau khi đã tạo niềm vui ở bậc có sự hành trì tốt đẹp, sau khi phục vụ đấng Toàn Giác, tôi đã sanh lên cõi trời Đẩu Suất.
BJT 1694Trước đây một ngàn sáu trăm kiếp, đã có hai, rồi chín vị cùng tên Ekacintita, là các đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1695Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Sumaṅgala đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
2. Sumaṅgalattheraapadānaṃ
2. The Apadāna of the Elder Sumaṅgala
2. Thánh tích của trưởng lão Sumaṅgala
11.
11.
11.
‘‘Atthadassī jinavaro, lokajeṭṭho narāsabho;
Vihārā abhinikkhamma, taḷākaṃ upasaṅkami.
“Atthadassī, the excellent Victor, foremost in the world, a bull among men, having gone forth from the monastery, approached a lake.”
Bậc Chiến Thắng cao quý Atthadassī, bậc Tối Thắng trong thế gian, bậc Ngưu Vương trong loài người, đã đi ra khỏi tu viện và tiến đến hồ nước.
12.
12.
12.
‘‘Nhatvā pitvā ca sambuddho, uttaritvekacīvaro;
Aṭṭhāsi bhagavā tattha, vilokento disodisaṃ.
“Having bathed and drunk, the Fully Enlightened One came up from the water wearing a single robe. The Blessed One stood there, looking in every direction.”
Sau khi tắm và uống nước, bậc Chánh Đẳng Giác đã đi lên khỏi mặt nước, chỉ với một y. Đức Thế Tôn đã đứng lại ở nơi ấy, nhìn ngắm các phương hướng.
13.
13.
13.
‘‘Bhavane upaviṭṭhohaṃ, addasaṃ lokanāyakaṃ;
Haṭṭho haṭṭhena cittena, apphoṭesiṃ ahaṃ tadā.
“Seated in my mansion, I saw the Leader of the World. Joyful, with a delighted mind, I then clapped my hands.”
Tôi đang ngồi trong cung điện, đã nhìn thấy bậc Lãnh Đạo thế gian. Với tâm hoan hỷ, tôi đã vui mừng và khi ấy đã vỗ tay.
14.
14.
14.
‘‘Sataraṃsiṃva jotantaṃ, pabhāsantaṃva kañcanaṃ †;
Naccagīte payuttohaṃ, pañcaṅgatūriyamhi ca.
“He was shining like the hundred-rayed sun, radiant like gold. I devoted myself to dance and song, and to the five-limbed musical instruments.”
Ngài tỏa sáng như mặt trời, rực rỡ như vàng. Tôi đã chuyên tâm vào việc ca múa và ngũ âm.
15.
15.
15.
‘‘Yaṃ yaṃ yonupapajjāmi, devattaṃ atha mānusaṃ;
Sabbe satte abhibhomi, vipulo hoti me yaso †.
“In whatever existence I am reborn, whether divine or human, I surpass all beings; my fame becomes vast.”
Bất cứ cảnh giới nào tôi tái sanh vào, dù là cõi trời hay cõi người, tôi đều vượt trội hơn tất cả chúng sanh; danh tiếng của tôi trở nên rộng lớn.
16.
16.
16.
‘‘Namo te purisājañña, namo te purisuttama;
Attānaṃ tosayitvāna, pare tosesi tvaṃ muni.
“Homage to you, O thoroughbred of men! Homage to you, O supreme among men! Having brought joy to yourself, you, O Sage, bring joy to others.”
Con xin đảnh lễ Ngài, bậc Long Tượng trong loài người! Con xin đảnh lễ Ngài, bậc Tối Thắng trong loài người! Hỡi bậc Mâu-ni, Ngài làm cho chính mình được hoan hỷ và cũng làm cho những người khác được hoan hỷ.
17.
17.
17.
‘‘Pariggahe † nisīditvā, hāsaṃ katvāna subbate;
Upaṭṭhahitvā sambuddhaṃ, tusitaṃ upapajjahaṃ.
“Having sat in my domain and expressed my joy, O you of excellent vows, and having attended upon the Fully Enlightened One, I was reborn in the Tusita heaven.”
Sau khi sống trong gia đình, tạo niềm vui trong thiện hạnh, và hầu hạ đức Chánh Đẳng Giác, tôi đã được sanh lên cõi trời Tusita.
18.
18.
18.
‘‘Soḷaseto kappasate, dvinavaekacintitā;
Sattaratanasampannā, cakkavattī mahabbalā.
“Sixteen hundred aeons ago from this one, there were two wheel-turning monarchs named Ekacintita, endowed with the seven treasures and of great might.”
Vào một ngàn sáu trăm kiếp tính từ đây, đã có hai vị Chuyển Luân Vương tên là Ekacintita, sở hữu bảy báu vật, có đại oai lực.
19.
19.
19.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
“The four analytical knowledges… and so on… the Buddha’s Dispensation has been fulfilled.”
Bốn Tuệ Phân Tích ... vân vân ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā sumaṅgalo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Sumaṅgala spoke these verses.
Như vậy, trưởng lão Sumaṅgala đã nói những câu kệ này.
Sumaṅgalattherassāpadānaṃ dutiyaṃ.
The second Apadāna of the Elder Sumaṅgala is concluded.
Thiên sử về trưởng lão Sumaṅgala là phần thứ hai.