Bản dịch
THA -ap111 — Ký Sự về Trưởng Lão Biḷālidāyaka
Biḷālidāyakattheraapadāna
BJT 1663Tôi sống trên tấm thảm bằng lá ở không xa núi Hi-mã-lạp. Khi ấy, tôi đạt được sự ham thích các loại cỏ và có thói quen nằm ngủ (ở thảm lá).
BJT 1664Sau khi mang lại và sửa soạn (các) trái táo, trái bhallātaka, và trái billa, tôi đào xới các loại rễ củ kalamba, biḷālī, và takkala.
BJT 1665Sau khi biết được ý định của tôi, đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đã đi đến khu vực của tôi.
BJT 1666Khi bậc Long Tượng, vị Trời của chư Thiên, đấng Nhân Ngưu đi đến, tôi đã dâng lên củ biḷālī và đã đặt vào trong bình bát.
BJT 1667Khi ấy, trong lúc làm cho tôi được hoan hỷ, bậc Đại Hùng đã thọ dụng. Sau khi thọ dụng, đấng Toàn Tri đã nói lên lời kệ này:
BJT 1668“Sau khi làm cho tâm của mình được tịnh tín, ngươi đã dâng cúng củ biḷālī đến Ta, ngươi không đi đến khổ cảnh trong một trăm ngàn kiếp.”
BJT 1669Trước đây năm mươi bốn kiếp, (tôi đã là) vị tên Sumekhaliya, là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1670(Đây) là lần cuối cùng của tôi trong sự luân chuyển, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Tôi duy trì thân mạng cuối cùng ở Giáo Pháp của đấng Chánh Đẳng Giác.
BJT 1671Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Biḷālidāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Biḷālidāyaka là phần thứ chín.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
9. Biḷālidāyakattheraapadānaṃ
9. The Apadāna of the Elder Biḷālidāyaka
9. Thánh tích về trưởng lão Biḷālidāyaka
53.
53.
53.
‘‘Himavantassāvidūre, vasāmi paṇṇasanthare;
Ghāsesu gedhamāpanno, seyyasīlo cahaṃ † tadā.
Not far from the Himavanta, I dwelled on a bed of leaves. Attached to food, at that time I was one whose habit was to lie down.
“Không xa dãy Himavanta, tôi sống trên tấm lót bằng lá cây. Khi ấy, tôi đã trở nên tham lam trong việc ăn uống và có thói quen ngủ nghỉ.”
54.
54.
54.
‘‘Khaṇantālu † kalambāni, biḷālitakkalāni ca;
Kolaṃ bhallātakaṃ billaṃ, āhatvā paṭiyāditaṃ.
Digging up yams and tubers—ālu and kalamba, biḷāli and takkala—and having brought jujubes, marking-nuts, and bael fruit, I prepared them.
“Đào lên các loại củ khoai, củ môn, và các loại măng, và đã mang về các loại quả táo ta, quả thanh trà, quả bael, (thức ăn) đã được chuẩn bị.”
55.
55.
55.
‘‘Padumuttaro lokavidū, āhutīnaṃ paṭiggaho;
Mama saṅkappamaññāya, āgacchi mama santikaṃ.
Padumuttara, the Knower of the World, the worthy recipient of offerings, knowing my intention, came into my presence.
“Đức Padumuttara, bậc Thông Suốt Thế Gian, bậc Xứng Đáng Thọ Lãnh Vật Dâng Cúng, sau khi biết được ý định của tôi, đã đi đến gần tôi.”
56.
56.
56.
‘‘Upāgataṃ mahānāgaṃ, devadevaṃ narāsabhaṃ;
Biḷāliṃ paggahetvāna, pattamhi okiriṃ ahaṃ.
To the one who had approached—the great Nāga, the god of gods, the bull among men—I, having taken up the biḷāli tuber, placed it in his bowl.
“Đến bậc Đại Long đã đến gần, bậc Thiên Trung Thiên, bậc Ngưu Vương trong loài người, sau khi cầm lấy củ khoai môn, tôi đã đặt vào trong bát.”
57.
57.
57.
‘‘Paribhuñji mahāvīro, tosayanto mamaṃ tadā;
Paribhuñjitvāna sabbaññū, imaṃ gāthaṃ abhāsatha.
The Great Hero partook, delighting me at that time. Having partaken, the All-Knowing One spoke this verse:
“Bậc Đại Hùng đã thọ dụng, khi ấy làm cho tôi được vui lòng. Sau khi đã thọ dụng, bậc Toàn Giác đã nói lên câu kệ này.”
58.
58.
58.
‘‘‘Sakaṃ cittaṃ pasādetvā, biḷāliṃ me adā tuvaṃ;
Kappānaṃ satasahassaṃ, duggatiṃ nupapajjasi’.
‘Having inspired confidence in your own mind, you gave me the biḷāli tuber. For a hundred thousand aeons, you will not go to a woeful state.’
“‘Sau khi làm cho tâm mình được tịnh tín, ngươi đã dâng cúng củ khoai môn đến ta. Trong một trăm ngàn kiếp, ngươi sẽ không sanh vào khổ cảnh.’”
59.
59.
59.
‘‘Carimaṃ vattate mayhaṃ, bhavā sabbe samūhatā;
Dhāremi antimaṃ dehaṃ, sammāsambuddhasāsane.
This is my final existence; all states of being are uprooted. I bear this final body in the teaching of the Perfectly Enlightened One.
“Đây là (kiếp sống) cuối cùng của tôi, tất cả các hữu đã được nhổ lên. Tôi đang mang thân cuối cùng trong giáo pháp của bậc Chánh Đẳng Giác.”
60.
60.
60.
‘‘Catupaññāsito kappe, sumekhaliyasavhayo;
Sattaratanasampanno, cakkavattī mahabbalo.
Fifty-four aeons ago, I was a wheel-turning monarch of great power named Sumekhaliya, endowed with the seven treasures.
“Cách đây năm mươi bốn kiếp, tôi là vị Chuyển Luân Vương tên Sumekhaliya, có đầy đủ bảy báu vật, có đại oai lực.”
61.
61.
61.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six supernormal knowledges have been realized. The teaching of the Buddha has been fulfilled.
“Bốn Tuệ Phân Tích ... (v.v.) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā biḷālidāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Biḷālidāyaka spoke these verses.
Như vậy, trưởng lão Biḷālidāyaka đã nói lên những câu kệ này.
Biḷālidāyakattherassāpadānaṃ navamaṃ.
The ninth Apadāna of the Elder Biḷālidāyaka is finished.
Thánh tích về trưởng lão Biḷālidāyaka, phần thứ chín.