Bản dịch
THA -ap101 — Ký Sự về Trưởng Lão Veyyāvaccaka
Veyyāvaccakattheraapadāna
BJT 1601Đã có đoàn người vô cùng đông đúc đến với đức Thế Tôn Vipassī. Tôi là đã người làm việc phục dịch năng động trong mọi công chuyện.
BJT 1602Và vật xứng đáng để dâng cúng đến đấng Thiện Thệ bậc Đại Ẩn Sĩ thì tôi không có. Tôi đã đảnh lễ ở bàn chân của bậc Đạo Sư với tâm ý trong sạch.
BJT 1603Kể từ khi tôi đã thực hiện việc phục dịch trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc phục dịch.
BJT 1604Và trước đây vào kiếp thứ tám, tôi đã là đức vua Sucintita, là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1605Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Veyyāvaccakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Veyyāvaccaka là phần thứ chín.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
9. Veyyāvaccakattheraapadānaṃ
9. The Apadāna of the Elder Veyyāvaccaka
9. Thánh tích về trưởng lão Veyyāvaccaka
51.
51.
51.
‘‘Vipassissa bhagavato, mahāpūgagaṇo ahu;
Veyyāvaccakaro āsiṃ, sabbakiccesu vāvaṭo †.
In the dispensation of the Blessed One Vipassī, there was a great assembly of meritorious people. I was one who rendered service, diligent in all duties.
“Vào thời đức Thế Tôn Vipassī, đã có hội chúng đông đảo. Tôi đã là người phục vụ, chuyên cần trong tất cả các công việc.
52.
52.
52.
‘‘Deyyadhammo ca me natthi, sugatassa mahesino;
Avandiṃ satthuno pāde, vippasannena cetasā.
I had no gift to offer to the Well-gone One, the Great Seeker; with a mind of clear confidence, I paid homage at the Teacher's feet.
“Và tôi không có vật phẩm cúng dường nào dành cho đấng Thiện Thệ, bậc Đại Thánh. Tôi đã đảnh lễ đôi chân của bậc Đạo Sư với tâm ý trong sạch.
53.
53.
53.
‘‘Ekanavutito kappe, veyyāvaccaṃ akāsahaṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, veyyāvaccassidaṃ phalaṃ.
Ninety-one aeons ago from this aeon, I performed service; since then, I have not known a woeful state. This is the fruit of that service.
“Cách đây chín mươi mốt kiếp, tôi đã thực hiện việc phục vụ. Tôi không còn biết đến khổ cảnh, đây là quả báu của việc phục vụ.
54.
54.
54.