- Sutta Nipāta 5.9
Bản dịch
SNP 5.9 — Kinh Hemaka
Hemakamāṇavapucchā
(Tôn giả Hemaka nói:) “Những người nào trước đây đã giảng giải cho tôi khác với lời dạy của Gotama (nói rằng): ‘Đã là như vầy, sẽ là như vầy,’ mọi điều ấy đều do nghe nói lại theo truyền thống, mọi điều ấy đều là sự tăng trưởng suy tầm (về dục), tôi không thích thú ở nơi ấy.
Và thưa bậc hiền trí, xin ngài hãy nói cho tôi về pháp diệt trừ tham ái; sau khi hiểu pháp ấy, tôi có niệm, trong khi sống, có thể vượt qua sự vướng mắc này ở thế gian.”
“Này Hemaka, ở đây, về các hình thức đáng yêu đã được thấy-đã được nghe-đã được cảm giác-đã được nhận thức là sự xua đi mong muốn và luyến ái (ở chúng), là vị thế Niết Bàn, Bất Hoại.
Sau khi nhận biết điều này, những vị nào có niệm, đã nhận thức được Giáo Pháp, đã được diệt tắt, và luôn luôn an tịnh, những vị ấy đã vượt qua sự vướng mắc này ở thế gian.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Kinh Tập (Suttanipāta). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Anthology of Discourses 5.9
The Questions of Hemaka
8. Câu hỏi của thanh niên Hemaka
“Ye me pubbe viyākaṁsu, (iccāyasmā hemako) Huraṁ gotamasāsanā; Iccāsi iti bhavissati, Sabbaṁ taṁ itihītihaṁ; Sabbaṁ taṁ takkavaḍḍhanaṁ, Nāhaṁ tattha abhiramiṁ.
“Those who have previously answered me,” said Venerable Hemaka, “before Gotama’s teaching, said ‘thus it was’ or ‘so it shall be’. All that was just the testament of hearsay; all that just fostered speculation: I found no delight in that.
(Tôn giả Hemaka thưa rằng:) “Những vị đã giải thích cho con trước đây, trước giáo pháp của Ngài Gotama, (rằng) ‘đã là như vậy, sẽ là như vậy.’ Tất cả những điều đó chỉ là truyền thuyết. Tất cả những điều đó chỉ làm tăng trưởng sự suy lường. Con không tìm thấy sự hoan hỷ trong đó.”
Tvañca me dhammamakkhāhi, taṇhānigghātanaṁ muni; Yaṁ viditvā sato caraṁ, tare loke visattikaṁ”.
But you, sage, explain to me the teaching that destroys craving. Having understood it, one who lives mindfully may cross over clinging in the world.”
“Xin Ngài, bậc ẩn sĩ, hãy giảng cho con về Pháp, pháp đoạn trừ ái dục, pháp mà khi biết được, người có chánh niệm sống, có thể vượt qua sự dính mắc trong đời.”
“Idha diṭṭhasutamutaviññātesu, Piyarūpesu hemaka; Chandarāgavinodanaṁ, Nibbānapadamaccutaṁ.
“The removal of desire and lust, Hemaka, for pleasant things seen, heard, thought, or cognized here is extinguishment, the state that does not pass.
“Này Hemaka, ở đây, đối với những hình sắc khả ái được thấy, nghe, cảm nhận và nhận biết, sự loại trừ dục và tham, (chính là) trạng thái Niết-bàn bất biến.”
Etadaññāya ye satā, Diṭṭhadhammābhinibbutā; Upasantā ca te sadā, Tiṇṇā loke visattikan”ti.
Those who have fully understood this, mindful, are quenched in this very life. Always at peace, they’ve crossed over clinging to the world.”
“Những vị nào có chánh niệm, sau khi đã biết điều này, đã tịch tịnh ngay trong hiện tại, họ luôn luôn an tịnh, đã vượt qua sự dính mắc trong đời.”
Hemakamāṇavapucchā aṭṭhamā.
Câu hỏi của thanh niên Hemaka, phần thứ tám.