- Sutta Nipāta 5.13
Bản dịch
SNP 5.13 — Kinh Bhadrāvudha
Bhadrāvudhamāṇavapucchā
(Tôn giả Bhadrāvudha nói:) “Tôi khẩn cầu bậc khôn ngoan, bậc từ bỏ chỗ trú ngụ, bậc cắt đứt tham ái, bậc không còn dục vọng, bậc từ bỏ thú vui, bậc đã vượt qua dòng lũ, bậc đã được giải thoát, bậc từ bỏ sự sắp đặt (do tham ái và tà kiến). Sau khi lắng nghe (lời nói) của bậc Long Tượng, từ đây họ sẽ ra đi.
Thưa bậc anh hùng, vô số người từ các xứ sở đã tụ hội lại, mong muốn lời nói của ngài. Xin ngài hãy khéo léo giải thích cho họ, bởi vì pháp này đã được ngài biết đúng theo bản thể.”
(Đức Thế Tôn nói: “Này Bhadrāvudha,) nên xua đi sự nắm giữ và tham ái, ở bên trên, bên dưới, luôn cả chiều ngang và khoảng giữa. Bởi vì, mỗi một điều gì họ chấp thủ ở thế gian, do chính điều ấy Ma Vương theo đuổi loài người.
Vì thế, trong khi nhận biết rằng: ‘Họ bị dính mắc ở sự nắm giữ,’ trong khi xem xét nhân loại này bị vướng mắc ở lãnh địa của Thần Chết, vị tỳ khưu, có niệm, không nên chấp thủ bất cứ điều gì ở khắp thế gian.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Kinh Tập (Suttanipāta). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Anthology of Discourses 5.13
The Questions of Bhadrāvudha
12. Câu hỏi của thanh niên Bhadrāvudha
“Okañjahaṁ taṇhacchidaṁ anejaṁ, (iccāyasmā bhadrāvudho) Nandiñjahaṁ oghatiṇṇaṁ vimuttaṁ; Kappañjahaṁ abhiyāce sumedhaṁ, Sutvāna nāgassa apanamissanti ito.
“I beseech you, the bastion-leaver, the craving-cutter, the imperturbable,” said Venerable Bhadrāvudha, “the delight-leaver, the flood-crosser, the freed, the formulation-leaver, the intelligent. Different people have gathered <j>from across the nations
(Tôn giả Bhadrāvudha thưa:) "Con tha thiết cầu xin bậc đã từ bỏ nhà, đã cắt đứt ái dục, không còn dao động, đã từ bỏ hỷ lạc, đã vượt qua bộc lưu, đã giải thoát, đã từ bỏ kappa, bậc có trí tuệ tốt đẹp. Sau khi nghe lời dạy của bậc Long Tượng, nhiều người từ nơi đây sẽ ra đi."
Nānājanā janapadehi saṅgatā, Tava vīra vākyaṁ abhikaṅkhamānā; Tesaṁ tuvaṁ sādhu viyākarohi, Tathā hi te vidito esa dhammo”.
wishing to hear your word, O hero. After hearing the spiritual giant <j>they will depart from here. Please, sage, answer them clearly, for truly you understand this matter.”
"Nhiều người từ các xứ khác nhau đã tụ hội, đang mong mỏi lời dạy của Ngài, hỡi bậc Anh hùng. Lành thay, xin Ngài hãy giải thích rõ cho họ, vì quả thật pháp này đã được Ngài biết rõ."
“Ādānataṇhaṁ vinayetha sabbaṁ, (bhadrāvudhāti bhagavā Uddhaṁ adho tiriyañcāpi majjhe; Yaṁ yañhi lokasmimupādiyanti, Teneva māro anveti jantuṁ.
“Dispel all craving for attachments,” replied the Buddha, “above, below, all round, between. For whatever a personage grasps in the world, Māra pursues them right there.
(Thế Tôn phán, Bhadrāvudha,) "Hãy loại bỏ tất cả tham ái chấp thủ, ở trên, ở dưới, và cả ở ngang, ở giữa. Vì bất cứ cái gì chúng sanh chấp thủ trong thế gian, chính do cái đó mà Ma vương đi theo."
Tasmā pajānaṁ na upādiyetha, Bhikkhu sato kiñcanaṁ sabbaloke; Ādānasatte iti pekkhamāno, Pajaṁ imaṁ maccudheyye visattan”ti.
So let a mindful mendicant who understands not grasp anything in all the world, observing that, in clinging to attachments, these people cling to the domain of death.”
"Do đó, vị Tỳ-khưu chánh niệm, người có trí, không nên chấp thủ bất cứ điều gì trong tất cả thế gian, khi thấy rằng: 'Chúng sanh này dính mắc vào sự chấp thủ, bị ràng buộc trong lãnh địa của tử thần'."
Bhadrāvudhamāṇavapucchā dvādasamā.
Câu hỏi của thanh niên Bhadrāvudha, phần thứ mười hai.