- Sutta Nipāta 3.12
Dvayatānupassanāsutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Dvayatānupassanāsutta
“Những người nào không nhận biết khổ, rồi nguồn sanh khởi của khổ, và nơi nào khổ được tiêu hoại toàn bộ không dư sót, và không biết về đạo lộ ấy, (đạo lộ) đưa đến sự yên lặng của khổ.
Những người ấy là thấp kém về sự giải thoát của tâm, rồi sự giải thoát của tuệ, những người ấy không thể thực hiện việc chấm dứt, quả thật họ đi đến sanh và già.
Và những người nào nhận biết khổ, rồi nguồn sanh khởi của khổ, và nơi nào khổ được tiêu hoại toàn bộ không dư sót, và nhận biết đạo lộ ấy, (đạo lộ) đưa đến sự yên lặng của khổ.
Những người ấy thành tựu sự giải thoát của tâm, rồi sự giải thoát của tuệ, những người ấy có thể thực hiện việc chấm dứt, quả thật họ không đi đến sanh và già.”
“Bất cứ các khổ nào, với nhiều hình thức, phát khởi ở thế gian đều có mầm tái sanh là căn nguyên. Thật vậy, kẻ ngu nào, không biết, tạo ra mầm tái sanh, (sẽ) đi đến khổ lần này lần khác. Vì thế, người có sự quán xét về sự sanh ra và phát khởi của khổ, trong khi nhận biết, không nên tạo ra mầm tái sanh.”
“Những người nào đi đến sanh, tử, luân hồi lần này lần khác, đến sự hiện hữu này và sự hiện hữu khác, tiến trình ấy là do chính vô minh.
Bởi vì vô minh này là sự mê muội lớn lao, do nó việc bị luân hồi này là lâu dài. Và những chúng sanh nào đạt được minh, họ không đi đến sự hiện hữu lại nữa.”
“Bất cứ khổ nào được hình thành, tất cả do các hành là duyên. Do sự diệt tận của các hành, không có sự hình thành của khổ.
Sau khi biết được điều ấy là bất lợi, (biết được) khổ do các hành là duyên. Do sự yên lặng của tất cả các hành, do sự ngưng lại của tưởng, như vậy có sự cạn kiệt của khổ, sau khi biết điều này đúng theo thực thể ...
... các bậc đạt được sự thông hiểu đã nhìn thấy đúng đắn; với sự nhận biết đúng đắn, các bậc sáng suốt, sau khi chế ngự sự ràng buộc của Ma Vương, không đi đến sự hiện hữu lại nữa.”
“Bất cứ khổ nào được hình thành, tất cả do thức là duyên. Do sự diệt tận của thức, không có sự hình thành của khổ.
Sau khi biết được điều ấy là bất lợi, (biết được) khổ do thức là duyên, do sự yên tịnh của thức, vị tỳ khưu không còn sự khao khát, được hoàn toàn tịch tịnh.”
“Đối với những người bị quấy nhiễu bởi (sáu) xúc, có sự xuôi theo dòng chảy của hiện hữu, đang thực hành đường lối xấu xa, sự cạn kiệt các mối ràng buộc là xa xôi.
Và những người nào, sau khi biết toàn diện về xúc, được thích thú ở sự an tịnh nhờ vào trí hiểu biết, những người ấy, thật vậy, do sự lãnh hội về xúc, không còn sự khao khát, được hoàn toàn tịch tịnh.”
“Bất cứ điều gì có sự được cảm thọ, dầu là lạc hay là khổ, (hay là) với không khổ không lạc, ở nội phần và ở ngoại phần, ...
... Sau khi biết được ‘điều ấy là khổ, có tính chất giả trá, bị đổ vỡ, trong khi nhìn thấy sự hoại diệt sau mỗi lượt xúc chạm và nhận thức như vậy tại nơi ấy, do sự cạn kiệt của các thọ, vị tỳ khưu không còn sự khao khát, được hoàn toàn tịch tịnh.”
“Có tham ái là bạn lữ, trong khi luân chuyển một thời gian dài đến sự hiện hữu này và sự hiện hữu khác, con người không vượt qua được luân hồi.
Sau khi biết được điều ấy là bất lợi, (biết được) tham ái là nguồn sanh khởi của khổ, vị tỳ khưu có tham ái đã được xa lìa, không có nắm giữ, có niệm, nên ra đi du phương.”
“Do thủ là duyên, có hữu. Ngưỡi đã được hiện hữu phải chịu khổ. Có cái chết dành cho người đã được sanh ra; điều ấy là nguồn sanh khởi của khổ.
Vì thế, do sự cạn kiệt của thủ, các bậc sáng suốt, với sự nhận biết đúng đắn, sau khi biết rõ sự cạn kiệt của sanh, không đi đến sự hiện hữu lại nữa.”
“Bất cứ khổ nào được hình thành, tất cả do sự khởi động là duyên. Do sự diệt tận của sự khởi động, không có sự hình thành của khổ.
Sau khi biết được điều ấy là bất lợi, (biết được) khổ do sự khởi động là duyên, sau khi từ bỏ mọi sự khởi động, đối với vị đã giải thoát khỏi sự khởi động, ...
... đối với vị tỳ khưu có hữu ái đã được trừ tuyệt, có tâm an tịnh, việc luân hồi tái sanh đã được triệt tiêu, đối với vị ấy không có sự hiện hữu lại nữa.”
“Bất cứ khổ nào được hình thành, tất cả do dưỡng chất là duyên. Do sự diệt tận của các dưỡng chất, không có sự hình thành của khổ.
Sau khi biết được điều ấy là bất lợi, (biết được) khổ do dưỡng chất là duyên, sau khi biết toàn diện về mọi dưỡng chất thì không bị lệ thuộc vào mọi dưỡng chất.
Với sự nhận biết đúng đắn về vô bệnh (Niết Bàn), do sự hoàn toàn cạn kiệt của các lậu hoặc, vị có sự hành trì, sau khi phán xét, đứng vững ở Giáo Pháp; các bậc đạt được sự thông hiểu không đi đến sự phán xét.”
“Bất cứ khổ nào được hình thành, tất cả do sự loạn động là duyên. Do sự diệt tận của các sự loạn động, không có sự hình thành của khổ.
Sau khi biết được điều ấy là bất lợi, (biết được) khổ do sự loạn động là duyên, chính vì thế, sau khi buông bỏ dục vọng, sau khi chận đứng các hành, vị tỳ khưu không còn dục vọng, không có nắm giữ, có niệm, nên ra đi du phương.”
“Người không bị lệ thuộc không dao động, và người bị lệ thuộc, trong khi chấp thủ sự hiện hữu này và sự hiện hữu khác, không vượt qua được luân hồi.
Sau khi biết được điều ấy là bất lợi, (biết được) nỗi sợ hãi lớn lao ở các sự lệ thuộc, vị tỳ khưu không bị lệ thuộc, không có nắm giữ, có niệm, nên ra đi du phương.”
“Và những chúng sanh nào đã đi đến sắc giới, và những người nào trú ở vô sắc giới, trong khi không biết toàn diện về tịch diệt (Niết Bàn), là những người đi đến sự hiện hữu lại nữa.
Và những người nào sau khi biết toàn diện về sắc giới, đã khéo đứng vững ở vô sắc giới, những người nào được giải thoát ở tịch diệt (Niết Bàn), những người ấy có sự từ bỏ Tử Thần.”
“Hãy nhìn xem thế gian, tính luôn cõi chư Thiên, có sự hoan hỷ ở vô ngã (và) bị chìm đắm ở danh và sắc. Họ nghĩ rằng: ‘Điều này là sự thật.’
Dẫu cho họ nghĩ thế nào, cái ấy trở thành cái khác so với chính nó. Chính cái ấy trở nên giả trá đối với nó, bởi vì nó có tính chất giả trá và ngắn ngủi.
Niết Bàn là pháp không giả trá, các bậc Thánh đã biết điều ấy là sự thật. Những vị ấy, thật vậy, do sự lãnh hội về sự thật, không còn sự khao khát, được hoàn toàn tịch tịnh.”
“Các sắc, các thinh, các vị, các hương, các xúc, và các pháp, tất cả là đáng mong, đáng yêu, và đáng mến khi nào chúng còn (có trạng thái) được gọi là ‘hiện hữu.’
Đối với thế gian, tính luôn cõi chư Thiên, các pháp này được công nhận là lạc, và nơi nào các pháp này được diệt tận, điều ấy đối với chúng được công nhận là khổ.
Sự hoại diệt của bản thân này được các bậc Thánh xem là ‘lạc,’ điều (nhận thức) này của các bậc đang nhìn thấy là đối nghịch với tất cả thế gian.
Điều nào những kẻ khác đã nói là lạc, điều ấy các bậc Thánh đã nói là khổ. Điều nào những kẻ khác đã nói là khổ, điều ấy các bậc Thánh đã biết là lạc.
Hãy nhìn xem Pháp khó nhận biết (Niết Bàn), ở đây những kẻ ngu muội không nhìn thấy. Sự tối tăm là dành cho những kẻ bị che đậy, bóng đêm là dành cho những kẻ không nhìn thấy.
Sự mở ra (Niết Bàn) là dành cho những người tốt lành, ví như ánh sáng là dành cho những người đang nhìn thấy. Những kẻ ngu không thông thạo Giáo Pháp không nhận thức được (dầu) ở gần bên.
Pháp này không dễ dàng giác ngộ bởi những kẻ bị quấy nhiễu bởi hữu ái, bởi những kẻ xuôi theo dòng chảy của hữu, bởi những kẻ đã đi vào tầm khống chế của Ma Vương.
Vậy người nào xứng đáng để giác ngộ vị thế (Niết Bàn) ngoại trừ các bậc Thánh? Với sự nhận biết đúng đắn về vị thế ấy, các ngài chứng đạt Niết Bàn, không còn lậu hoặc.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Kinh Tập (Suttanipāta). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
12. Kinh Quán Sát Song Đối
Tôi nghe như vầy – một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Pubbārāma, trong lâu đài của mẹ Migāra. Bấy giờ, vào ngày Uposatha thứ mười lăm, trong đêm trăng tròn, Thế Tôn đang ngồi ngoài trời, có Tăng chúng Tỳ-khưu vây quanh. Bấy giờ, Thế Tôn nhìn khắp Tăng chúng Tỳ-khưu đang hoàn toàn im lặng, rồi gọi các Tỳ-khưu:
“‘Ye te, bhikkhave, kusalā dhammā ariyā niyyānikā sambodhagāmino, tesaṁ vo, bhikkhave, kusalānaṁ dhammānaṁ ariyānaṁ niyyānikānaṁ sambodhagāmīnaṁ kā upanisā savanāyā’ti, iti ce, bhikkhave, pucchitāro assu, te evamassu vacanīyā: ‘yāvadeva dvayatānaṁ dhammānaṁ yathābhūtaṁ ñāṇāyā’ti. Kiñca dvayataṁ vadetha?
“Suppose, monks, they questioned you thus: ‘There are skillful teachings that are noble, emancipating, and lead to awakening. What is the real reason for listening to such teachings?’ You should answer: ‘Only so as to truly know the pairs of teachings.’ And what pairs do they speak of?
Này các Tỳ-khưu, nếu có những người hỏi các ông rằng: 'Này các Tỳ-khưu, đối với những pháp thiện, pháp bậc thánh, pháp đưa đến giải thoát, pháp đưa đến giác ngộ, đâu là nhân duyên để lắng nghe các pháp ấy?', thì này các Tỳ-khưu, các ông nên trả lời họ như sau: 'Chính là để có được trí tuệ như thật về các pháp song đối'. Và các ông sẽ nói pháp song đối là gì?
Idaṁ dukkhaṁ, ayaṁ dukkhasamudayoti ayamekānupassanā. Ayaṁ dukkhanirodho, ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadāti, ayaṁ dutiyānupassanā. Evaṁ sammā dvayatānupassino kho, bhikkhave, bhikkhuno appamattassa ātāpino pahitattassa viharato dvinnaṁ phalānaṁ aññataraṁ phalaṁ pāṭikaṅkhaṁ—diṭṭheva dhamme aññā, sati vā upādisese anāgāmitā”ti.
‘This is suffering; this is the origin of suffering’: this is the first contemplation. ‘This is the cessation of suffering; this is the practice that leads to the cessation of suffering’: this is the second contemplation. When a mendicant meditates rightly contemplating a pair of teachings in this way—diligent, keen, and resolute—they can expect one of two results: enlightenment in this very life, or if there’s residue left behind, non-return.”
(1) 'Đây là khổ, đây là khổ tập'—đây là một pháp quán sát. 'Đây là khổ diệt, đây là con đường đưa đến khổ diệt'—đây là pháp quán sát thứ hai. Này các Tỳ-khưu, đối với vị Tỳ-khưu chánh quán sát song đối như vậy, sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, một trong hai quả được chờ đợi: hoặc là chứng đắc Chánh trí ngay trong hiện tại, hoặc nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất lai.
Idamavoca bhagavā. Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
Thế Tôn đã nói như vậy. Sau khi nói như vậy, bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư lại nói thêm điều này:
“Ye dukkhaṁ nappajānanti, atho dukkhassa sambhavaṁ; Yattha ca sabbaso dukkhaṁ, asesaṁ uparujjhati; Tañca maggaṁ na jānanti, dukkhūpasamagāminaṁ.
“There are those who don’t understand suffering and suffering’s cause, and where all suffering ceases no residue left behind. And they do not know the path that leads to the stilling of suffering.
Những ai không biết rõ khổ, và cũng không biết rõ sự sanh khởi của khổ; và nơi nào khổ được đoạn diệt hoàn toàn, không còn dư sót; và họ cũng không biết con đường đưa đến sự an tịnh của khổ.
Cetovimuttihīnā te, Atho paññāvimuttiyā; Abhabbā te antakiriyāya, Te ve jātijarūpagā.
They lack the heart’s release, as well as the release by wisdom. Unable to make an end, they continue to be reborn and grow old.
Họ thiếu sót tâm giải thoát, và cũng thiếu sót tuệ giải thoát; họ không có khả năng chấm dứt (khổ đau), họ chắc chắn phải chịu sanh và già.
Ye ca dukkhaṁ pajānanti, atho dukkhassa sambhavaṁ; Yattha ca sabbaso dukkhaṁ, asesaṁ uparujjhati; Tañca maggaṁ pajānanti, dukkhūpasamagāminaṁ.
But there are those who understand suffering and suffering’s cause, and where all suffering ceases with no residue left behind. And they understand the path that leads to the stilling of suffering.
Còn những ai biết rõ khổ, và cũng biết rõ sự sanh khởi của khổ; và nơi nào khổ được đoạn diệt hoàn toàn, không còn dư sót; và họ biết con đường đưa đến sự an tịnh của khổ.
Cetovimuttisampannā, Atho paññāvimuttiyā; Bhabbā te antakiriyāya, Na te jātijarūpagāti.
They’re endowed with the heart’s release, as well as the release by wisdom. Able to make an end, they don’t continue to be reborn and grow old.”
Họ đầy đủ tâm giải thoát, và cũng đầy đủ tuệ giải thoát; họ có khả năng chấm dứt (khổ đau), họ không phải chịu sanh và già.
‘Siyā aññenapi pariyāyena sammā dvayatānupassanā’ti, iti ce, bhikkhave, pucchitāro assu; ‘siyā’tissu vacanīyā. Kathañca siyā? Yaṁ kiñci dukkhaṁ sambhoti sabbaṁ upadhipaccayāti, ayamekānupassanā. Upadhīnaṁ tveva asesavirāganirodhā natthi dukkhassa sambhavoti, ayaṁ dutiyānupassanā. Evaṁ sammā …pe… athāparaṁ etadavoca satthā:
“Suppose, monks, they questioned you thus: ‘Could there be another way to contemplate the pairs?’ You should say, ‘There could.’ And how could there be? ‘All the suffering that originates is caused by attachment’: this is one contemplation. ‘When attachment has faded away and ceased with no residue left behind, there is no origination of suffering’: this is the second contemplation. When a mendicant meditates in this way they can expect enlightenment or non-return.” Then the Teacher went on to say:
(2) 'Này các Tỳ-khưu, có thể có pháp chánh quán sát song đối theo một cách khác không?', nếu có những người hỏi như vậy, nên trả lời họ: 'Có thể có'. Và như thế nào? 'Bất cứ khổ nào sanh khởi, tất cả đều do duyên chấp thủ (upadhi)'—đây là một pháp quán sát. 'Do sự ly tham và đoạn diệt hoàn toàn các chấp thủ, nên không có sự sanh khởi của khổ'—đây là pháp quán sát thứ hai. Chánh quán sát như vậy... vân vân... bậc Đạo Sư lại nói thêm điều này:
“Upadhinidānā pabhavanti dukkhā, Ye keci lokasmimanekarūpā; Yo ve avidvā upadhiṁ karoti, Punappunaṁ dukkhamupeti mando; Tasmā pajānaṁ upadhiṁ na kayirā, Dukkhassa jātippabhavānupassīti.
“Attachment is the source of suffering in all its countless forms in the world. When an ignorant person builds up attachments, that dullard returns to suffering again and again. So let one who understands <j>not build up attachments, contemplating the inception of suffering and rebirth.”
Các khổ đau với nhiều hình thức khác nhau sanh khởi trong thế gian đều có nguồn gốc từ chấp thủ. Kẻ ngu si, do vô minh, tạo ra chấp thủ, nên kẻ ấy phải chịu khổ đau lặp đi lặp lại. Do đó, người có trí tuệ, thấy được sự sanh và nguồn gốc của khổ, không nên tạo ra chấp thủ.
‘Siyā aññenapi pariyāyena sammā dvayatānupassanā’ti, iti ce, bhikkhave, pucchitāro assu; ‘siyā’tissu vacanīyā. Kathañca siyā? Yaṁ kiñci dukkhaṁ sambhoti sabbaṁ avijjāpaccayāti, ayamekānupassanā. Avijjāya tveva asesavirāganirodhā natthi dukkhassa sambhavoti, ayaṁ dutiyānupassanā. Evaṁ sammā …pe… athāparaṁ etadavoca satthā:
“Suppose, monks, they questioned you thus: ‘Could there be another way to contemplate the pairs?’ You should say, ‘There could.’ And how could there be? ‘All the suffering that originates is caused by ignorance’: this is one contemplation. ‘When ignorance has faded away and ceased with no residue left behind, there is no origination of suffering’: this is the second contemplation. When a mendicant meditates in this way they can expect enlightenment or non-return.” Then the Teacher went on to say:
(3) 'Này các Tỳ-khưu, có thể có pháp chánh quán sát song đối theo một cách khác không?', nếu có những người hỏi như vậy, nên trả lời họ: 'Có thể có'. Và như thế nào? 'Bất cứ khổ nào sanh khởi, tất cả đều do duyên vô minh'—đây là một pháp quán sát. 'Do sự ly tham và đoạn diệt hoàn toàn vô minh, nên không có sự sanh khởi của khổ'—đây là pháp quán sát thứ hai. Chánh quán sát như vậy... vân vân... bậc Đạo Sư lại nói thêm điều này:
“Jātimaraṇasaṁsāraṁ, ye vajanti punappunaṁ; Itthabhāvaññathābhāvaṁ, avijjāyeva sā gati.
“Those who journey again and again, transmigrating through birth and death; they go from this state to another, that destination due only to ignorance.
Những chúng sanh nào đi lặp đi lặp lại trong vòng luân hồi sanh tử, đến trạng thái này hay trạng thái khác, chính vô minh là nguyên nhân của sự đi đến ấy.
Avijjā hāyaṁ mahāmoho, Yenidaṁ saṁsitaṁ ciraṁ; Vijjāgatā ca ye sattā, Na te gacchanti punabbhavanti.
For ignorance is the great delusion because of which we have long transmigrated. Those beings who have knowledge do not proceed to a future life.”
Vô minh này chính là đại si mê, do nó mà (chúng sanh) đã luân hồi lâu dài. Còn những chúng sanh nào đã đạt được minh, họ không đi đến tái sanh nữa.
‘Siyā aññenapi …pe… kathañca siyā? Yaṁ kiñci dukkhaṁ sambhoti sabbaṁ saṅkhārapaccayāti, ayamekānupassanā. Saṅkhārānaṁ tveva asesavirāganirodhā natthi dukkhassa sambhavoti, ayaṁ dutiyānupassanā. Evaṁ sammā …pe… athāparaṁ etadavoca satthā:
“‘Could there be another way?’ … And how could there be? ‘All the suffering that originates is caused by choices’: this is one contemplation. ‘When choices has faded away and ceased with no residue left behind, there is no origination of suffering’: this is the second contemplation. When a mendicant meditates in this way they can expect enlightenment or non-return.” Then the Teacher went on to say:
(4) 'Có thể có... vân vân... theo một cách khác không?'. 'Và như thế nào?'. 'Bất cứ khổ nào sanh khởi, tất cả đều do duyên các hành (saṅkhāra)'—đây là một pháp quán sát. 'Do sự ly tham và đoạn diệt hoàn toàn các hành, nên không có sự sanh khởi của khổ'—đây là pháp quán sát thứ hai. Chánh quán sát như vậy... vân vân... bậc Đạo Sư lại nói thêm điều này:
“Yaṁ kiñci dukkhaṁ sambhoti, sabbaṁ saṅkhārapaccayā; Saṅkhārānaṁ nirodhena, natthi dukkhassa sambhavo.
“All the suffering that originates is caused by choices. With the cessation of choices, there is no origination of suffering.
Bất cứ khổ nào sanh khởi, tất cả đều do duyên các hành. Do sự đoạn diệt của các hành, không có sự sanh khởi của khổ.
Etamādīnavaṁ ñatvā, dukkhaṁ saṅkhārapaccayā; Sabbasaṅkhārasamathā, saññānaṁ uparodhanā; Evaṁ dukkhakkhayo hoti, etaṁ ñatvā yathātathaṁ.
Knowing this danger, that suffering is caused by choices; through the stilling of all choices, and the stopping of perceptions, this is the way suffering ends when one has known this as it is.
Biết được sự nguy hiểm này, rằng khổ đau do duyên các hành; do sự an tịnh của tất cả các hành, do sự đoạn diệt của các tưởng; như vậy có sự tận diệt của khổ. Biết điều này như thật,
Sammaddasā vedaguno, Sammadaññāya paṇḍitā; Abhibhuyya mārasaṁyogaṁ, Na gacchanti punabbhavanti.
‘Siyā aññenapi …pe… kathañca siyā? Yaṁ kiñci dukkhaṁ sambhoti sabbaṁ viññāṇapaccayāti, ayamekānupassanā. Viññāṇassa tveva asesavirāganirodhā natthi dukkhassa sambhavoti, ayaṁ dutiyānupassanā. Evaṁ sammā …pe… athāparaṁ etadavoca satthā:
“Yaṁ kiñci dukkhaṁ sambhoti, Sabbaṁ viññāṇapaccayā; Viññāṇassa nirodhena, Natthi dukkhassa sambhavo.
Etamādīnavaṁ ñatvā, Dukkhaṁ viññāṇapaccayā; Viññāṇūpasamā bhikkhu, Nicchāto parinibbutoti.
Rightly seeing, knowledge masters, the astute, understanding rightly, having thrown off Māra’s yoke, do not proceed to a future life.”
“‘Could there be another way?’ … And how could there be? ‘All the suffering that originates is caused by consciousness’: this is one contemplation. ‘When consciousness has faded away and ceased with no residue left behind, there is no origination of suffering’: this is the second contemplation. When a mendicant meditates in this way they can expect enlightenment or non-return.” Then the Teacher went on to say:
“All the suffering that originates is caused by consciousness. With the cessation of consciousness, there is no origination of suffering.
Knowing this danger, that suffering is caused by consciousness, with the stilling of consciousness a mendicant is hungerless, quenched.”
bậc trí tuệ, người có chánh kiến, bậc thông đạt, sau khi đã hiểu biết đúng đắn, chinh phục được sự trói buộc của Ma, không đi đến tái sanh nữa.
‘Siyā aññenapi …pe… kathañca siyā? Yaṁ kiñci dukkhaṁ sambhoti sabbaṁ phassapaccayāti, ayamekānupassanā. Phassassa tveva asesavirāganirodhā natthi dukkhassa sambhavoti, ayaṁ dutiyānupassanā. Evaṁ sammā …pe… athāparaṁ etadavoca satthā:
“Tesaṁ phassaparetānaṁ, Bhavasotānusārinaṁ; Kummaggapaṭipannānaṁ,
“‘Could there be another way?’ … And how could there be? ‘All the suffering that originates is caused by contact’: this is one contemplation. ‘When contact has faded away and ceased with no residue left behind, there is no origination of suffering’: this is the second contemplation. When a mendicant meditates in this way they can expect enlightenment or non-return.” Then the Teacher went on to say:
“Those mired in contact, swept down the stream of lives, practicing the wrong way,
(11) “Có thể có phương pháp khác nữa hay không? ...v.v... Và như thế nào? Bất cứ khổ nào sanh khởi, tất cả đều do duyên vật thực, đây là một loại tùy quán. Do sự đoạn diệt và ly tham không còn dư tàn chính ngay các vật thực ấy, sự sanh khởi của khổ không còn nữa, đây là loại tùy quán thứ hai. Như vậy là chánh ...v.v... Sau đó, bậc Đạo Sư đã nói lời này:
“Đối với những chúng sanh bị xúc chi phối, trôi theo dòng hữu, đi vào con đường tà, sự đoạn tận các kiết sử ở rất xa.
Ye ca phassaṁ pariññāya, Aññāyupasame ratā; Te ve phassābhisamayā, Nicchātā parinibbutāti.
But those who completely understand contact, who, understanding, delight in peace; by comprehending contact they are hungerless, quenched.”
“Những vị nào liễu tri xúc, sau khi đã biết, vui thích trong sự an tịnh; chính các vị ấy, do thông hiểu xúc, không còn khao khát, được tịch tịnh.”
‘Siyā aññenapi …pe… kathañca siyā? Yaṁ kiñci dukkhaṁ sambhoti sabbaṁ vedanāpaccayāti, ayamekānupassanā. Vedanānaṁ tveva asesavirāganirodhā natthi dukkhassa sambhavoti, ayaṁ dutiyānupassanā. Evaṁ sammā …pe… athāparaṁ etadavoca satthā:
“‘Could there be another way?’ … And how could there be? ‘All the suffering that originates is caused by feeling’: this is one contemplation. ‘When feeling has faded away and ceased with no residue left behind, there is no origination of suffering’: this is the second contemplation. When a mendicant meditates in this way they can expect enlightenment or non-return.” Then the Teacher went on to say:
(7) “Có thể có phương pháp khác nữa hay không? ...v.v... Và như thế nào? Bất cứ khổ nào sanh khởi, tất cả đều do duyên thọ, đây là một loại tùy quán. Do sự đoạn diệt và ly tham không còn dư tàn chính ngay các cảm thọ ấy, sự sanh khởi của khổ không còn nữa, đây là loại tùy quán thứ hai. Như vậy là chánh ...v.v... Sau đó, bậc Đạo Sư đã nói lời này:
“Sukhaṁ vā yadi vā dukkhaṁ, Adukkhamasukhaṁ saha; Ajjhattañca bahiddhā ca, Yaṁ kiñci atthi veditaṁ.
“Whether it’s pleasant or painful, as well as what’s neutral, whatever there is that is felt internally and externally:
“Hoặc lạc, hoặc khổ, cùng với bất khổ bất lạc; bên trong và bên ngoài, bất cứ cảm thọ nào hiện hữu.
Etaṁ dukkhanti ñatvāna, Mosadhammaṁ palokinaṁ; Phussa phussa vayaṁ passaṁ, Evaṁ tattha vijānati; Vedanānaṁ khayā bhikkhu, Nicchāto parinibbutoti.
having known, ‘this is suffering, deceptive, breaking apart’, seeing feelings vanish with every contact, that’s how they understand them. With the ending of feelings, a mendicant is hungerless, quenched.”
“Biết rằng đây là khổ, là pháp lừa dối, hoại diệt; sau khi tiếp xúc, thấy được sự biến mất, vị ấy biết rõ về điều ấy. Do sự đoạn tận các cảm thọ, vị tỳ khưu không còn khao khát, được tịch tịnh.”
‘Siyā aññenapi …pe… kathañca siyā? Yaṁ kiñci dukkhaṁ sambhoti sabbaṁ taṇhāpaccayāti, ayamekānupassanā. Taṇhāya tveva asesavirāganirodhā natthi dukkhassa sambhavoti, ayaṁ dutiyānupassanā. Evaṁ sammā …pe… athāparaṁ etadavoca satthā:
“‘Could there be another way?’ … And how could there be? ‘All the suffering that originates is caused by craving’: this is one contemplation. ‘When craving has faded away and ceased with no residue left behind, there is no origination of suffering’: this is the second contemplation. When a mendicant meditates in this way they can expect enlightenment or non-return.” Then the Teacher went on to say:
(8) “Có thể có phương pháp khác nữa hay không? ...v.v... Và như thế nào? Bất cứ khổ nào sanh khởi, tất cả đều do duyên ái, đây là một loại tùy quán. Do sự đoạn diệt và ly tham không còn dư tàn chính ngay ái ấy, sự sanh khởi của khổ không còn nữa, đây là loại tùy quán thứ hai. Như vậy là chánh ...v.v... Sau đó, bậc Đạo Sư đã nói lời này:
“Taṇhādutiyo puriso, Dīghamaddhāna saṁsaraṁ; Itthabhāvaññathābhāvaṁ, Saṁsāraṁ nātivattati.
“Craving is a person’s partner as they transmigrate on this long journey. They go from this state to another, but don’t escape transmigration.
“Người có ái làm bạn đồng hành, trong thời gian dài đã luân hồi; từ trạng thái này đến trạng thái khác, không vượt qua được vòng luân hồi.
Etamādīnavaṁ ñatvā, Taṇhaṁ dukkhassa sambhavaṁ; Vītataṇho anādāno, Sato bhikkhu paribbajeti.
Knowing this danger, that craving is the cause of suffering—rid of craving, free of grasping, a mendicant would wander mindful.”
“Biết được sự nguy hại này, rằng ái là nguồn gốc của khổ; vị tỳ khưu đã ly ái, không còn chấp thủ, chánh niệm, nên du hành.”
‘Siyā aññenapi …pe… kathañca siyā? Yaṁ kiñci dukkhaṁ sambhoti sabbaṁ upādānapaccayāti, ayamekānupassanā. Upādānānaṁ tveva asesavirāganirodhā natthi dukkhassa sambhavoti, ayaṁ dutiyānupassanā. Evaṁ sammā …pe… athāparaṁ etadavoca satthā:
“‘Could there be another way?’ … And how could there be? ‘All the suffering that originates is caused by grasping’: this is one contemplation. ‘When grasping has faded away and ceased with no residue left behind, there is no origination of suffering’: this is the second contemplation. When a mendicant meditates in this way they can expect enlightenment or non-return.” Then the Teacher went on to say:
(9) “Có thể có phương pháp khác nữa hay không? ...v.v... Và như thế nào? Bất cứ khổ nào sanh khởi, tất cả đều do duyên thủ, đây là một loại tùy quán. Do sự đoạn diệt và ly tham không còn dư tàn chính ngay các thủ ấy, sự sanh khởi của khổ không còn nữa, đây là loại tùy quán thứ hai. Như vậy là chánh ...v.v... Sau đó, bậc Đạo Sư đã nói lời này:
“Upādānapaccayā bhavo, Bhūto dukkhaṁ nigacchati; Jātassa maraṇaṁ hoti, Eso dukkhassa sambhavo.
“Grasping is the cause of continued existence; one who exists falls into suffering. Death comes to those who are born—this is the origination of suffering.
“Do duyên thủ nên có hữu, chúng sanh đã hiện hữu đi đến khổ; người đã sanh thì có sự chết, đây là nguồn gốc của khổ.
Tasmā upādānakkhayā, Sammadaññāya paṇḍitā; Jātikkhayaṁ abhiññāya, Na gacchanti punabbhavanti.
That’s why with the end of grasping, the astute, understanding rightly, having directly known the end of rebirth, do not proceed to a future life.”
“Do đó, do sự đoạn tận thủ, các bậc hiền trí đã chánh trí; sau khi thắng tri sự đoạn tận của sanh, các vị ấy không đi đến tái sanh.”
‘Siyā aññenapi …pe… kathañca siyā? Yaṁ kiñci dukkhaṁ sambhoti sabbaṁ ārambhapaccayāti, ayamekānupassanā. Ārambhānaṁ tveva asesavirāganirodhā natthi dukkhassa sambhavoti, ayaṁ dutiyānupassanā. Evaṁ sammā …pe… athāparaṁ etadavoca satthā:
“‘Could there be another way?’ … And how could there be? ‘All the suffering that originates is caused by instigating activity’: this is one contemplation. ‘When instigation has faded away and ceased with no residue left behind, there is no origination of suffering’: this is the second contemplation. When a mendicant meditates in this way they can expect enlightenment or non-return.” Then the Teacher went on to say:
(10) “Có thể có phương pháp khác nữa hay không? ...v.v... Và như thế nào? Bất cứ khổ nào sanh khởi, tất cả đều do duyên khởi sự, đây là một loại tùy quán. Do sự đoạn diệt và ly tham không còn dư tàn chính ngay các khởi sự ấy, sự sanh khởi của khổ không còn nữa, đây là loại tùy quán thứ hai. Như vậy là chánh ...v.v... Sau đó, bậc Đạo Sư đã nói lời này:
“Yaṁ kiñci dukkhaṁ sambhoti, Sabbaṁ ārambhapaccayā; Ārambhānaṁ nirodhena, Natthi dukkhassa sambhavo.
“All the suffering that originates is caused by instigating activity. With the cessation of instigation, there is no origination of suffering.
“Bất cứ khổ nào sanh khởi, tất cả đều do duyên khởi sự; do sự diệt của các khởi sự, sự sanh khởi của khổ không còn nữa.
Etamādīnavaṁ ñatvā, Dukkhaṁ ārambhapaccayā; Sabbārambhaṁ paṭinissajja, Anārambhe vimuttino.
Knowing this danger, that suffering is caused by instigating activity, having given up all instigation, one is freed with respects to instigation.
“Biết được sự nguy hại này, rằng khổ do duyên khởi sự; sau khi từ bỏ mọi khởi sự, tâm được giải thoát trong trạng thái vô sự.
Ucchinnabhavataṇhassa, Santacittassa bhikkhuno; Vikkhīṇo jātisaṁsāro, Natthi tassa punabbhavoti.
‘Siyā aññenapi …pe… kathañca siyā? Yaṁ kiñci dukkhaṁ sambhoti sabbaṁ āhārapaccayāti, ayamekānupassanā. Āhārānaṁ tveva asesavirāganirodhā natthi dukkhassa sambhavoti, ayaṁ dutiyānupassanā. Evaṁ sammā …pe… athāparaṁ etadavoca satthā:
For the mendicant with peaceful mind, who has cut off craving for continued existence, transmigration through births is finished; there’ll be no more future lives for them.”
“‘Could there be another way?’ … And how could there be? ‘All the suffering that originates is caused by sustenance’: this is one contemplation. ‘When sustenance has faded away and ceased with no residue left behind, there is no origination of suffering’: this is the second contemplation. When a mendicant meditates in this way they can expect enlightenment or non-return.” Then the Teacher went on to say:
“Đối với vị tỳ khưu đã đoạn tận hữu ái, có tâm an tịnh; vòng luân hồi sanh tử đã được chấm dứt, vị ấy không còn tái sanh.”
“Yaṁ kiñci dukkhaṁ sambhoti, Sabbaṁ āhārapaccayā; Āhārānaṁ nirodhena, Natthi dukkhassa sambhavo.
“All the suffering that originates is caused by sustenance. With the cessation of sustenance, there is no origination of suffering.
“Bất cứ khổ nào sanh khởi, tất cả đều do duyên vật thực; do sự diệt của các vật thực, sự sanh khởi của khổ không còn nữa.
Etamādīnavaṁ ñatvā, Dukkhaṁ āhārapaccayā; Sabbāhāraṁ pariññāya, Sabbāhāramanissito.
Knowing this danger, that suffering is caused by sustenance, completely understanding all sustenance, one is independent of all sustenance.
“Biết được sự nguy hại này, rằng khổ do duyên vật thực; sau khi liễu tri mọi vật thực, không còn nương tựa vào bất cứ vật thực nào.
Ārogyaṁ sammadaññāya, Āsavānaṁ parikkhayā; Saṅkhāya sevī dhammaṭṭho, Saṅkhyaṁ nopeti vedagūti.
Having rightly understood the state of health, through the ending of defilements, one who makes use after appraisal, firm in principle, a knowledge master cannot be reckoned.”
“Sau khi chánh trí về trạng thái vô bệnh, do sự đoạn tận các lậu hoặc; bậc thông suốt, sống theo pháp, đứng vững trong pháp, không còn bị liệt kê vào số lượng.”
‘Siyā aññenapi …pe… kathañca siyā? Yaṁ kiñci dukkhaṁ sambhoti sabbaṁ iñjitapaccayāti, ayamekānupassanā. Iñjitānaṁ tveva asesavirāganirodhā natthi dukkhassa sambhavoti, ayaṁ dutiyānupassanā. Evaṁ sammā …pe… athāparaṁ etadavoca satthā:
“‘Could there be another way?’ … And how could there be? ‘All the suffering that originates is caused by perturbation’: this is one contemplation. ‘When perturbation has faded away and ceased with no residue left behind, there is no origination of suffering’: this is the second contemplation. When a mendicant meditates in this way they can expect enlightenment or non-return.” Then the Teacher went on to say:
(12) “Có thể có phương pháp khác nữa hay không? ...v.v... Và như thế nào? Bất cứ khổ nào sanh khởi, tất cả đều do duyên dao động, đây là một loại tùy quán. Do sự đoạn diệt và ly tham không còn dư tàn chính ngay các sự dao động ấy, sự sanh khởi của khổ không còn nữa, đây là loại tùy quán thứ hai. Như vậy là chánh ...v.v... Sau đó, bậc Đạo Sư đã nói lời này:
“Yaṁ kiñci dukkhaṁ sambhoti, Sabbaṁ iñjitapaccayā; Iñjitānaṁ nirodhena, Natthi dukkhassa sambhavo.
“All the suffering that originates is caused by perturbation. With the cessation of perturbation, there is no origination of suffering.
“Bất cứ khổ nào sanh khởi, tất cả đều do duyên dao động; do sự diệt của các sự dao động, sự sanh khởi của khổ không còn nữa.
Etamādīnavaṁ ñatvā, Dukkhaṁ iñjitapaccayā; Tasmā hi ejaṁ vossajja, Saṅkhāre uparundhiya; Anejo anupādāno, Sato bhikkhu paribbajeti.
Knowing this danger, that suffering is caused by perturbation, that’s why, having relinquished perturbation, and stopped making karmic choices, imperturbable, free of grasping, a mendicant would wander mindful.”
“Biết được sự nguy hại này, rằng khổ do duyên dao động; do đó, sau khi từ bỏ sự rung động, ngăn chặn các hành; vị tỳ khưu không còn rung động, không còn chấp thủ, chánh niệm, nên du hành.”
‘Siyā aññenapi …pe… kathañca siyā? Nissitassa calitaṁ hotīti, ayamekānupassanā. Anissito na calatīti, ayaṁ dutiyānupassanā. Evaṁ sammā …pe… athāparaṁ etadavoca satthā:
“‘Could there be another way?’ … And how could there be? ‘For the dependent there is quivering’: this is the first contemplation. ‘For the independent there’s no agitation’: this is the second contemplation. When a mendicant meditates in this way they can expect enlightenment or non-return.” Then the Teacher went on to say:
(13) “Có thể có phương pháp khác nữa hay không? ...v.v... Và như thế nào? Người có nương tựa thì có rung chuyển, đây là một loại tùy quán. Người không nương tựa thì không rung chuyển, đây là loại tùy quán thứ hai. Như vậy là chánh ...v.v... Sau đó, bậc Đạo Sư đã nói lời này:
“Anissito na calati, Nissito ca upādiyaṁ; Itthabhāvaññathābhāvaṁ, Saṁsāraṁ nātivattati.
“For the independent there’s no agitation. The dependent, grasping, goes from this state to another, without escaping transmigration.
“Người không nương tựa thì không rung chuyển, còn người có nương tựa và chấp thủ; từ trạng thái này đến trạng thái khác, không vượt qua được vòng luân hồi.
Etamādīnavaṁ ñatvā, Nissayesu mahabbhayaṁ; Anissito anupādāno, Sato bhikkhu paribbajeti.
Knowing this danger, the great fear in dependencies, independent, free of grasping, a mendicant would wander mindful.”
“Biết được sự nguy hại này, rằng có sự nguy hiểm lớn trong các nơi nương tựa; vị tỳ khưu không nương tựa, không chấp thủ, chánh niệm, nên du hành.”
‘Siyā aññenapi …pe… kathañca siyā? Rūpehi, bhikkhave, arūpā santatarāti, ayamekānupassanā. Arūpehi nirodho santataroti, ayaṁ dutiyānupassanā. Evaṁ sammā …pe… athāparaṁ etadavoca satthā:
“‘Could there be another way?’ … And how could there be? ‘Formless states are more peaceful than states of form’: this is the first contemplation. ‘Cessation is more peaceful than formless states’: this is the second contemplation. When a mendicant meditates in this way they can expect enlightenment or non-return.” Then the Teacher went on to say:
(14) “Có thể có phương pháp khác nữa hay không? ...v.v... Và như thế nào? Này các tỳ khưu, so với các cõi sắc, các cõi vô sắc an tịnh hơn, đây là một loại tùy quán. So với các cõi vô sắc, sự diệt tận an tịnh hơn, đây là loại tùy quán thứ hai. Như vậy là chánh ...v.v... Sau đó, bậc Đạo Sư đã nói lời này:
“Ye ca rūpūpagā sattā, Ye ca arūpaṭṭhāyino; Nirodhaṁ appajānantā, Āgantāro punabbhavaṁ.
“There are beings in the realm of luminous form, and others stuck in the formless. Not understanding cessation, they return in future lives.
“Những chúng sanh nào đi đến cõi sắc, và những chúng sanh nào trú ở cõi vô sắc; do không biết đến sự diệt tận, họ là những người trở lại tái sanh.”
Ye ca rūpe pariññāya, Arūpesu asaṇṭhitā; Nirodhe ye vimuccanti, Te janā maccuhāyinoti.
But the people who completely understand form, not stuck in the formless, released in cessation—they are conquerors of death.”
“Và những ai đã liễu tri các cõi sắc, không an trú trong các cõi vô sắc; những vị được giải thoát trong sự diệt, những người ấy là những người từ bỏ cái chết.”
‘Siyā aññenapi …pe… kathañca siyā? Yaṁ, bhikkhave, sadevakassa lokassa samārakassa sabrahmakassa sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya idaṁ saccanti upanijjhāyitaṁ tadamariyānaṁ etaṁ musāti yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhaṁ, ayamekānupassanā. Yaṁ, bhikkhave, sadevakassa …pe… sadevamanussāya idaṁ musāti upanijjhāyitaṁ, tadamariyānaṁ etaṁ saccanti yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhaṁ, ayaṁ dutiyānupassanā. Evaṁ sammā …pe… athāparaṁ etadavoca satthā:
“‘Could there be another way?’ … And how could there be? ‘What this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans—focuses on as true, the noble ones have clearly seen with right wisdom to be actually false’: this is the first contemplation. ‘What this world focuses on as false, the noble ones have clearly seen with right wisdom to be actually true’: this is the second contemplation. When a mendicant meditates in this way they can expect enlightenment or non-return.” Then the Teacher went on to say:
(15) “Có thể có theo một phương diện khác... ... Và như thế nào? Này các Tỳ khưu, điều mà thế gian cùng với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, cùng với loài trời và loài người đã quán xét rằng: ‘Điều này là sự thật,’ thì đối với các bậc Thánh, điều ấy đã được thấy rõ bằng chánh trí tuệ đúng theo thực thể rằng: ‘Điều này là giả dối.’ Đây là sự quán chiếu thứ nhất. Này các Tỳ khưu, điều mà thế gian... ... cùng với loài trời và loài người đã quán xét rằng: ‘Điều này là giả dối,’ thì đối với các bậc Thánh, điều ấy đã được thấy rõ bằng chánh trí tuệ đúng theo thực thể rằng: ‘Điều này là sự thật.’ Đây là sự quán chiếu thứ hai. Như vậy, một cách đúng đắn... ... Sau đó, bậc Đạo Sư đã nói điều này:
“Anattani attamāniṁ, Passa lokaṁ sadevakaṁ; Niviṭṭhaṁ nāmarūpasmiṁ, Idaṁ saccanti maññati.
“See how the world with its gods imagines not-self to be self; habituated to name and form, imagining this is truth.
“Hãy xem thế gian cùng với chư Thiên, có sự ngã mạn về tự ngã trong cái vô ngã; đã an trú trong danh và sắc, họ nghĩ rằng: ‘Điều này là sự thật.’
Yena yena hi maññanti, Tato taṁ hoti aññathā; Tañhi tassa musā hoti, Mosadhammañhi ittaraṁ.
For however they imagine it, it turns out to be something else. And that is what is false in it, for the ephemeral is deceptive by nature.
“Bởi bất cứ phương diện nào mà họ nghĩ, nó lại trở thành khác đi so với điều đó. Quả thật, điều đó của nó là giả dối, vì nó là tạm thời và có tính chất lừa dối.
Amosadhammaṁ nibbānaṁ, Tadariyā saccato vidū; Te ve saccābhisamayā, Nicchātā parinibbutāti.
Extinguishment has an undeceptive nature, the noble ones know it as truth. Having comprehended the truth, they are hungerless, quenched.”
“Niết Bàn có tính chất không lừa dối, các bậc Thánh biết điều đó là sự thật. Quả vậy, do đã giác ngộ chân lý, các vị ấy không còn khao khát, đã hoàn toàn tịch tịnh.”
‘Siyā aññenapi pariyāyena sammā dvayatānupassanā’ti, iti ce, bhikkhave, pucchitāro assu; ‘siyā’tissu vacanīyā. Kathañca siyā? Yaṁ, bhikkhave, sadevakassa lokassa samārakassa sabrahmakassa sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya idaṁ sukhanti upanijjhāyitaṁ, tadamariyānaṁ etaṁ dukkhanti yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhaṁ, ayamekānupassanā. Yaṁ, bhikkhave, sadevakassa …pe… sadevamanussāya idaṁ dukkhanti upanijjhāyitaṁ tadamariyānaṁ etaṁ sukhanti yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhaṁ, ayaṁ dutiyānupassanā. Evaṁ sammā dvayatānupassino kho, bhikkhave, bhikkhuno appamattassa ātāpino pahitattassa viharato dvinnaṁ phalānaṁ aññataraṁ phalaṁ pāṭikaṅkhaṁ—diṭṭheva dhamme aññā, sati vā upādisese anāgāmitāti. Idamavoca bhagavā. Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Suppose, monks, they questioned you thus: ‘Could there be another way to contemplate the pairs?’ You should say, ‘There could.’ And how could there be? ‘What this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans—focuses on as happiness, the noble ones have clearly seen with right wisdom to be actually suffering’: this is the first contemplation. ‘What this world focuses on as suffering, the noble ones have clearly seen with right wisdom to be actually happiness’: this is the second contemplation. When a mendicant meditates rightly contemplating a pair of teachings in this way—diligent, keen, and resolute—they can expect one of two results: enlightenment in this very life, or if there’s residue left behind, non-return.” That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
(16) “‘Này các Tỳ khưu, có thể có sự quán chiếu cặp đôi một cách đúng đắn theo một phương diện khác hay không?’ Nếu có những người hỏi như vậy, này các Tỳ khưu, nên trả lời rằng: ‘Có thể có.’ Và như thế nào? Này các Tỳ khưu, điều mà thế gian cùng với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, cùng với loài trời và loài người đã quán xét rằng: ‘Điều này là hạnh phúc,’ thì đối với các bậc Thánh, điều ấy đã được thấy rõ bằng chánh trí tuệ đúng theo thực thể rằng: ‘Điều này là đau khổ.’ Đây là sự quán chiếu thứ nhất. Này các Tỳ khưu, điều mà thế gian... ... cùng với loài trời và loài người đã quán xét rằng: ‘Điều này là đau khổ,’ thì đối với các bậc Thánh, điều ấy đã được thấy rõ bằng chánh trí tuệ đúng theo thực thể rằng: ‘Điều này là hạnh phúc.’ Đây là sự quán chiếu thứ hai. Này các Tỳ khưu, đối với vị Tỳ khưu quán chiếu cặp đôi một cách đúng đắn như vậy, không buông lung, nhiệt tâm, quyết chí an trú, một trong hai quả vị được mong đợi: hoặc là chứng đắc A-la-hán ngay trong hiện tại, hoặc là quả vị Bất Lai nếu còn có dư y. Thế Tôn đã nói điều này. Sau khi nói điều này, bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư lại nói thêm điều này:
“Rūpā saddā rasā gandhā, Phassā dhammā ca kevalā; Iṭṭhā kantā manāpā ca, Yāvatatthīti vuccati.
“Sights, sounds, tastes, smells, touches, and ideas, the lot of them—they’re likable, desirable, and pleasurable as long as you can say that they exist.
“Sắc, thanh, hương, vị, xúc, và toàn bộ các pháp, những gì được mong muốn, đáng yêu, và làm vui lòng, được nói là có chừng ấy.
Sadevakassa lokassa, Ete vo sukhasammatā; Yattha cete nirujjhanti, Taṁ nesaṁ dukkhasammataṁ.
For all the world with its gods, this is what they deem happiness. And where they cease is deemed as suffering for them.
“Đối với thế gian cùng với chư Thiên, những điều này được xem là hạnh phúc; và nơi nào những điều này diệt, điều đó được họ xem là đau khổ.
Sukhanti diṭṭhamariyehi, Sakkāyassuparodhanaṁ; Paccanīkamidaṁ hoti, Sabbalokena passataṁ.
The noble ones have seen as happiness the ceasing of substantial reality. This insight by those who see contradicts the whole world.
“Sự chấm dứt của thân kiến được các bậc Thánh thấy là hạnh phúc. Điều này là đối nghịch với cái thấy của toàn thể thế gian.
Yaṁ pare sukhato āhu, Tadariyā āhu dukkhato; Yaṁ pare dukkhato āhu, Tadariyā sukhato vidū.
What others say is happiness the noble ones say is suffering. What others say is suffering the noble ones know as happiness.
“Điều mà người khác nói là hạnh phúc, các bậc Thánh nói đó là đau khổ. Điều mà người khác nói là đau khổ, các bậc Thánh biết đó là hạnh phúc.
Passa dhammaṁ durājānaṁ, Sampamūḷhetthaviddasu; Nivutānaṁ tamo hoti, Andhakāro apassataṁ.
See, this teaching is hard to understand, it confuses the ignorant. There is darkness for the shrouded; blackness for those who don’t see.
“Hãy xem Pháp khó hiểu này, ở đây những người không hiểu biết bị mê lầm. Đối với những người bị che lấp, có bóng tối; sự tối tăm cho những người không thấy.
Satañca vivaṭaṁ hoti, Āloko passatāmiva; Santike na vijānanti, Magā dhammassa kovidā.
But the good are open; like light for those who see. Though close, they do not understand, those fools inexpert in the teaching.
“Đối với các bậc thiện trí, nó được mở ra, như ánh sáng cho những người thấy. Dù ở gần, họ không biết, những người không thông thạo con đường của Pháp.
Bhavarāgaparetehi, Bhavasotānusāribhi; Māradheyyānupannehi, Nāyaṁ dhammo susambudho.
They’re mired in desire for continued existence, flowing along the stream of lives, mired in Māra’s dominion: this teaching isn’t easy for them to understand.
“Bởi những người bị tham ái trong các cõi hữu chế ngự, những người trôi theo dòng hữu, những người rơi vào lãnh địa của Ma vương, Pháp này không dễ được giác ngộ.
Ko nu aññatra mariyehi, Padaṁ sambuddhumarahati; Yaṁ padaṁ sammadaññāya, Parinibbanti anāsavā”ti.
Who, apart from the noble ones, is qualified to understand this state? Having rightly understood this state, the undefiled are fully extinguished.”
“Ngoài các bậc Thánh, ai có thể xứng đáng giác ngộ trạng thái này? Trạng thái mà sau khi đã giác ngộ một cách đúng đắn, các bậc vô lậu nhập Niết Bàn.”
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti. Imasmiñca pana veyyākaraṇasmiṁ bhaññamāne saṭṭhimattānaṁ bhikkhūnaṁ anupādāya āsavehi cittāni vimucciṁsūti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the monks approved what the Buddha said. And while this discourse was being spoken, the minds of sixty monks were freed from defilements by not grasping.
Thế Tôn đã nói điều này. Các Tỳ khưu ấy hoan hỷ, vui mừng với lời dạy của Thế Tôn. Và khi bài pháp này được thuyết giảng, tâm của khoảng sáu mươi vị Tỳ khưu đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ.
Dvayatānupassanāsuttaṁ dvādasamaṁ.
Tassuddānaṁ
Kinh Quán Chiếu Cặp Đôi, kinh thứ mười hai, đã chấm dứt.
Saccaṁ upadhi avijjā ca, saṅkhāre viññāṇapañcamaṁ; Phassavedaniyā taṇhā, upādānārambhaāhārā; Iñjitaṁ calitaṁ rūpaṁ, saccaṁ dukkhena soḷasāti.
Sự thật, cơ sở, và vô minh, các hành, và thức là thứ năm; xúc, cảm thọ, ái, thủ, khởi sự, và vật thực; sự rung động, sự lay động, sắc, sự thật cùng với khổ, là mười sáu.
Mahāvaggo tatiyo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Lớn, phẩm thứ ba, đã chấm dứt.
Pabbajjā ca padhānañca, subhāsitañca sundari; Māghasuttaṁ sabhiyo ca, selo sallañca vuccati.
Xuất gia và Tinh tấn, Thiện Thuyết và Sundarika; kinh Māgha và Sabhiya, Sela và Mũi Tên được nói đến.
Vāseṭṭho cāpi kokāli, Nālako dvayatānupassanā; Dvādasetāni suttāni, Mahāvaggoti vuccatīti.
Và Vāseṭṭha, Kokāliya, Nālaka, Quán Chiếu Cặp Đôi; mười hai kinh này được gọi là Phẩm Lớn.