- Sutta Nipāta 3.11
Nālakasutta
Ānandajāte tidasagaṇe patīte, Sakkañca indaṁ sucivasane ca deve; Dussaṁ gahetvā atiriva thomayante, Asito isi addasa divāvihāre.
Bản dịch
Nālakasutta
Vị ẩn sĩ Asita, vào lúc nghỉ trưa, đã nhìn thấy chư Thiên thuộc hội chúng cõi Tam Thập tràn đầy niềm hoan hỷ, vui thích, có y phục sạch sẽ, tôn kính Thiên Chủ Inda, đang cầm lấy vải vóc, và tán dương một cách nhiệt liệt.
Sau khi nhìn thấy chư Thiên có tâm ý vui mừng, phấn khởi, vị ấy đã thể hiện sự quan tâm, và tại nơi ấy đã nói điều này: “Tại sao hội chúng chư Thiên có dáng vẻ vô cùng mừng rỡ thế? Liên quan đến việc gì mà quý vị cầm lấy vải vóc quây vòng vòng vậy?
Mặc dầu vào lúc có cuộc chiến tranh với các A-tu-la, chiến thắng là thuộc về chư Thiên, còn các A-tu-la bị thất trận, vào lúc ấy cũng đã không có việc rởn lông như thế này. Vậy sau khi nhìn thấy điều phi thường gì mà các vị Thiên Thần thích thú?
Các vị hú vang, ca hát, tấu nhạc, đập vỗ các cánh tay, và nhảy múa. Thưa các ngài, tôi xin hỏi các ngài, những cư dân ở đỉnh núi Meru, xin các ngài hãy mau chóng giũ bỏ điều nghi hoặc của tôi.”
“Đức Bồ Tát ấy là vật báu quý giá, không thể sánh bằng, vì sự lợi ích và hạnh phúc (của chúng sanh) đã sanh ra ở thế giới loài người, tại ngôi làng của những người Sakya, thuộc xứ sở Lumbinī; chúng tôi phấn chấn, có dáng vẻ vô cùng mừng rỡ bởi vì điều ấy.
Ngài là bậc tối thượng của tất cả chúng sanh, là con người cao cả, đấng Nhân Ngưu, bậc tối thượng của tất cả loài người. Tựa như con sư tử hùng mạnh, chúa tể của loài thú, đang gầm thét, Ngài sẽ chuyển vận bánh xe ở khu rừng tên Isi.”
Sau khi nghe được lời nói ấy, vị ấy đã vội vã đi xuống, rồi đã đi đến chỗ cư ngụ của (vua) Suddhodana, sau khi ngồi xuống ở tại chỗ ấy, đã nói với các vị dòng Sakya điều này: “Hoàng tử ở đâu? Tôi cũng muốn chiêm ngưỡng.”
Sau đó, các vị dòng Sakya đã trình cho vị (ẩn sĩ) tên Asita thấy người con trai (của họ), vị hoàng tử sáng chói với sự vinh quang, có màu sắc tuyệt vời, tựa như khối vàng đã được đốt cháy, đã được nung nấu ở ngay cửa miệng của bễ lò rèn bởi người (thợ rèn) vô cùng thiện xảo.
Sau khi nhìn thấy vị hoàng tử tựa như ngọn lửa đang phát sáng, thanh tịnh tựa như chúa của các vì sao (mặt trăng) đang di chuyển ở bầu trời, tựa như mặt trời đang cháy sáng sau khi đã được thoát khỏi đám mây mùa thu, (vị ẩn sĩ) tràn đầy niềm hoan hỷ, đã đạt được pháp hỷ tràn trề.
Các vị Thiên Thần đã nắm giữ ở không trung chiếc lọng có nhiều thanh nan, có ngàn khoanh tròn, và phe phẩy tới lui những cây phất trần có tay cầm bằng vàng; những người nắm giữ các cây phất trần và chiếc lọng không được nhìn thấy.
Sau khi nhìn thấy (vị hoàng tử) tựa như vật trang sức bằng vàng ở tấm chăn len màu đỏ, có chiếc lọng trắng đang được duy trì ở trên đầu, vị ẩn sĩ bện tóc tên Kaṇhasiri, với tâm phấn khởi, thích ý, đã (đưa tay) tiếp nhận.
Hơn nữa, sau khi (đưa tay) tiếp nhận con người quý phái dòng Sakya, trong lúc xem xét, bậc tinh thông về tướng số và chú thuật, với tâm tịnh tín đã thốt lên lời nói rằng: “Vị này là bậc vô thượng, là đấng tối thượng của loài người.”
Rồi trong khi suy xét về số phận của bản thân, (vị ẩn sĩ) với dáng vẻ sầu thảm, tuôn rơi những giọt nước mắt. Sau khi nhìn thấy vị ẩn sĩ đang khóc lóc, những người dòng Sakya đã nói rằng: “Sẽ không có tai họa gì cho hoàng tử phải không?”
Sau khi nhìn thấy những người dòng Sakya sầu thảm, vị ẩn sĩ đã nói rằng: “Tôi không nghiệm thấy điều gì bất lợi cho hoàng tử, và cũng sẽ không có tai họa gì cho vị này. Vị này không phải là thấp thỏi, các người hãy an tâm.
Vị hoàng tử này sẽ thành tựu quả vị Toàn Giác tối cao. Vị này, có sự nhìn thấy (Niết Bàn) thanh tịnh tối thượng, có lòng thương tưởng đến sự lợi ích cho nhiều người, sẽ chuyển vận bánh xe Pháp. Phạm hạnh (Giáo Pháp) của vị này sẽ được lan rộng.
Và tuổi thọ của tôi còn lại ở nơi này không bao lâu, việc qua đời sẽ xảy đến cho tôi trước khi ấy. Tôi đây sẽ không được nghe Giáo Pháp của bậc tinh tấn không kẻ sánh bằng; vì thế tôi phiền muộn, đưa đến bất hạnh, sầu khổ.”
Bậc hành Phạm hạnh ấy, sau khi làm sanh khởi sự vui mừng cho những người dòng Sakya, đã rời khỏi nội cung. Trong lúc thương tưởng đến người cháu trai (con chị) của mình, vị ấy đã khuyên nó tiếp thu Giáo Pháp của bậc tinh tấn không kẻ sánh bằng:
“Khi nào con nghe được từ người khác âm thanh ‘Đức Phật,’ và bậc đã đạt được phẩm vị Toàn Giác khai mở Giáo Pháp tối cao, con hãy đi đến nơi ấy. Trong lúc tìm hiểu về đạo lý, con hãy thực hành Phạm hạnh ở nơi đức Thế Tôn ấy.”
Được chỉ dạy bởi vị ấy, bởi con người có tâm ý về sự lợi ích như thế ấy, bởi vị có sự nhìn thấy pháp thanh tịnh tối thượng trong ngày vị lai, Nālaka ấy, có sự tích lũy phước báu đã được hội tụ, trong lúc chờ đợi đấng Chiến Thắng, đã sống (với tư cách đạo sĩ khổ hạnh), có giác quan đã được gìn giữ.
Sau khi nghe được âm thanh về sự chuyển vận bánh xe cao quý của đấng Chiến Thắng, Nālaka đã đi đến, đã nhìn thấy vị chúa của các bậc ẩn sĩ. Được tịnh tín, Nālaka đã hỏi bậc Hiền Trí quý cao về trí tuệ tối thượng vào lúc lời giáo huấn của vị (ẩn sĩ) tên Asita đã được viên mãn.
Lời nói ấy của vị Asita đã được nhận biết là đúng như thật. Thưa ngài Gotama, vì thế chúng tôi hỏi ngài, bậc đã đi đến bờ kia của tất cả các pháp.
Tôi là người đã đi đến cuộc sống không nhà, đang tầm cầu việc hành pháp khất thực. Thưa bậc Hiền Trí, được tôi hỏi, xin ngài hãy nói về đường lối thực hành tối thượng của hiền trí hạnh.
(Đức Thế Tôn nói) “Ta sẽ giúp cho ngươi hiểu về hiền trí hạnh, là điều khó làm, ;à điều khó thành tựu. Vậy Ta sẽ tuyên thuyết về điều ấy cho ngươi. Ngươi hãy cứng cỏi. Ngươi hãy kiên định.
Nên thực hành sự bình thản khi có sự bị mắng nhiếc hoặc được lễ bái ở trong làng, nên canh phòng sự sai trái ở tâm, nên sống an tịnh, không cao ngạo.
Các hiện tượng tốt xấu (nhiều loại) bộc phát, tương tự như ngọn lửa ở khu rừng. Các phụ nữ quyến rủ bậc hiền trí, mong sao các cô ấy chớ quyến rũ ngươi.
Sau khi từ bỏ các dục nhiềm loại, đã được xa lìa pháp đôi lứa, không chống đối, không bị đắm say ở các sinh vật di động hay đứng yên.
‘Ta như thế nào, chúng như thế ấy; chúng như thế nào, ta như thế ấy,’ sau khi lấy bản thân làm ví dụ, không nên giết hại, không nên bảo (kẻ khác) giết hại.
Sau khi từ bỏ ước muốn và tham lam mà phàm phu bị dính mắc, bậc hữu nhãn nên thực hành (hiền trí hạnh), nên vượt qua địa ngục này.
Nên có bao tử vơi, nên có vật thực giới hạn, nên ít ham muốn, không tham lam. Vị ấy quả thật không có sự khao khát do ước muốn, là vị không cón ước muốn, được tịch tịnh.
Sau khi hành hạnh khất thực, bậc hiền trí nên đi đến ven rừng, đứng cạnh gốc cây, rồi tiến đến chỗ ngồi.
Đeo đuổi việc tham thiền, bậc sáng trí ấy nên vui thích nơi ven rừng; trong lúc làm hài lòng bản thân, nên tham thiền ở gốc cây.
Kế đó, khi tàn đêm, nên đi vào trong làng, không nên thích thú lời mời mọc và tặng phẩm từ ngôi làng.
Sau khi đi đến làng, bậc hiền trí không nên đi lại vội vàng ở các gia đình, việc chuyện vãn được cắt đứt, không nên nói lời nói gợi ý tầm cầu về vật thực.
‘Ta đã nhận được, việc này là tốt đẹp. Ta đã không nhận được, lành thay!” (nghĩ thế) với cả hai trường hợp, vị ấy đều tự tại, tựa như người đến gần cội cây rồi bỏ đi (dầu có hái được trái cây hay không cũng bình thản).
Vị ấy với bình bát ở bàn tay, trong khi đi đó đây, không là người câm, được xem như người câm, không nên khinh chê vật thí ít ỏi, không nên xem thường thí chủ.
Bởi vì đường lối thực hành cao và thấp đã được vị Sa-môn giảng giải. Họ không đi đến bờ kia hai lần; điều này được cảm giác không chỉ một lần.
Đối với vị tỳ khưu nào không có tham ái, đã cắt đứt dòng chảy, đã dứt bỏ việc cần làm và không cần làm, sự bực bội (của vị ấy) không hiện hữu.
(Đức Thế Tôn nói) Ta sẽ giúp cho ngươi hiểu về hiền trí hạnh. Nên giống như là lưỡi dao cạo. Nên áp chặt cái lưỡi vào nóc họng, nên tự chế ngự ở bao tử.
Và nên có tâm không bị trì trệ, và cũng không nên suy nghĩ nhiều, không còn mùi hôi thối (phiền não), không lệ thuộc, có Phạm hạnh là mục đích.
Nên học tập về hạnh độc cư và về sự rèn luyện của bậc Sa-môn. Trạng thái đơn độc được gọi là hiền trí. Hiển nhiên, một mình sẽ thỏa thích.
Rồi ngươi sẽ chiếu sáng mười phương. Sau khi nghe được danh tiếng của các bậc sáng trí, có thiền, có sự xả bỏ các dục, từ đó đệ tử của Ta nên làm tăng trưởng sự hổ thẹn tội lỗi và niềm tin.
Nên nhận biết điều ấy từ các con sông ở các hố nước và các khe nước, các dòng nước nhỏ di chuyển gây tiếng động, đại dương im lặng di chuyển.
Cái gì thiếu kém cái ấy làm thành tiếng vang, cái gì đầy ắp cái ấy thật yên tịnh. Kẻ ngu tương tự cái chum đầy một nửa, bậc sáng suốt tựa như hồ nước đầy tràn.
Điều mà Sa-môn nói nhiều là điều được liên quan, chứa đựng sự lợi ích. Có chủ tâm vị ấy thuyết giảng Giáo Pháp, có chủ tâm vị ấy nói nhiều.
Và vị nào có chủ tâm gắn bó sự an tịnh, có chủ tâm không nói nhiều, vị hiền trí ấy xứng đáng bản thể hiền trí, vị hiền trí ấy đã chứng đạt bản thể hiền trí."
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Kinh Tập (Suttanipāta). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Ānandajāte tidasagaṇe patīte, Sakkañca indaṁ sucivasane ca deve; Dussaṁ gahetvā atiriva thomayante, Asito isi addasa divāvihāre.
The seer Asita in his daily meditation saw the bright-clad gods of the host of Thirty and their lord Sakka joyfully celebrating, waving streamers in exuberant exaltation.
Đạo sĩ Asita, trong lúc nghỉ ban ngày, đã thấy chúng chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba đang hoan hỷ, vui mừng, cùng với vua trời Sakka và các vị trời mặc y phục thanh tịnh, cầm tấm vải và ca tụng quá mức.
Disvāna deve muditamane udagge, Cittiṁ karitvāna idamavoca tattha; “Kiṁ devasaṅgho atiriva kalyarūpo, Dussaṁ gahetvā ramayatha kiṁ paṭicca.
Seeing the gods rejoicing, elated, he paid respects and said this there: “Why is the community of gods <j>in such excellent spirits? Why take up streamers and whirl them about?
Sau khi thấy chư thiên có tâm hoan hỷ, hân hoan, ngài tỏ lòng kính trọng và nói lời này ở đó: ‘Tại sao chúng chư thiên lại có vẻ ngoài tốt đẹp quá mức? Do duyên cớ gì mà các ngài cầm tấm vải vui đùa như vậy?’
Yadāpi āsī asurehi saṅgamo, Jayo surānaṁ asurā parājitā; Tadāpi netādiso lomahaṁsano, Kimabbhutaṁ daṭṭhu marū pamoditā.
Even in the war with the titans, when gods were victorious and titans defeated, there was no such excitement. What marvel have the celestials seen <j>that they so rejoice?
“Ngay cả khi có trận chiến với các a-tu-la, chư thiên chiến thắng, a-tu-la bị đánh bại, ngay cả khi đó cũng không có sự vui mừng đến dựng tóc gáy như thế này. Chư thiên đã thấy điều kỳ diệu gì mà vui mừng như vậy?”
Seḷenti gāyanti ca vādayanti ca, Bhujāni phoṭenti ca naccayanti ca; Pucchāmi vohaṁ merumuddhavāsine, Dhunātha me saṁsayaṁ khippa mārisā”.
Shouting and singing and playing music, they clap their hands and dance. I ask you, dwellers on Mount Meru’s peak, quickly dispel my doubt, good fellows!”
“Họ reo hò, hát, chơi nhạc cụ, vỗ tay và nhảy múa. Hỡi những vị sống trên đỉnh núi Meru, tôi xin hỏi các ngài. Hỡi các ngài, xin hãy nhanh chóng xua tan sự nghi ngờ của tôi.”
“So bodhisatto ratanavaro atulyo, Manussaloke hitasukhatthāya jāto; Sakyāna gāme janapade lumbineyye, Tenamha tuṭṭhā atiriva kalyarūpā.
“The being intent on awakening, a peerless gem, has been born in the human realm <j>for the sake of welfare and happiness, in Lumbinī, a village in the Sakyan land. That’s why we’re so happy, in such excellent spirits.
“Vị Bồ-tát ấy, viên ngọc quý báu không ai sánh bằng, đã đản sanh trong cõi người vì lợi ích và hạnh phúc, tại làng của dòng họ Sakya, trong xứ Lumbini. Vì lý do đó, chúng tôi vui mừng và có vẻ ngoài tốt đẹp quá mức.”
So sabbasattuttamo aggapuggalo, Narāsabho sabbapajānamuttamo; Vattessati cakkamisivhaye vane, Nadaṁva sīho balavā migābhibhū”.
He is supreme among all beings, the peak individual, captain of men, supreme among all creatures. He will roll forth the wheel in the grove of the seers, roaring like a mighty lion, lord of beasts.”
“Vị ấy là bậc tối thượng trong tất cả chúng sanh, bậc tối thắng, bậc ngưu vương trong loài người, bậc tối thượng của mọi chúng sanh; Ngài sẽ chuyển bánh xe Pháp trong khu rừng tên Isipatana, như con sư tử dũng mãnh, chúa tể của các loài thú, cất lên tiếng rống.”
Taṁ saddaṁ sutvā turitamavasarī so, Suddhodanassa tada bhavanaṁ upāvisi; Nisajja tattha idamavocāsi sakye, “Kuhiṁ kumāro ahamapi daṭṭhukāmo”.
Hearing this, he swiftly descended and right away approached Suddhodana’s home. Seated there he said this to the Sakyans, “Where is the boy? I too wish to see him!”
Sau khi nghe âm thanh đó, vị ấy nhanh chóng đi xuống, đi vào cung điện của vua Suddhodana; ngồi xuống ở đó, ngài nói với dòng họ Sakya: ‘Thái tử ở đâu? Ta cũng muốn được thấy’.”
Tato kumāraṁ jalitamiva suvaṇṇaṁ, Ukkāmukheva sukusalasampahaṭṭhaṁ; Daddallamānaṁ siriyā anomavaṇṇaṁ, Dassesu puttaṁ asitavhayassa sakyā.
Then the Sakyans showed their son <j>to the one named Asita—the boy shone like burning gold well-wrought in the forge; dazzling with glory, of peerless beauty.
Sau đó, dòng họ Sakya đã cho vị tên là Asita thấy người con, vị Thái tử, rực rỡ như vàng được thợ kim hoàn khéo léo rèn giũa tại miệng lò, tỏa sáng với vẻ uy nghi, có màu sắc tuyệt hảo.
Disvā kumāraṁ sikhimiva pajjalantaṁ, Tārāsabhaṁva nabhasigamaṁ visuddhaṁ; Suriyaṁ tapantaṁ saradarivabbhamuttaṁ, Ānandajāto vipulamalattha pītiṁ.
The boy beamed like crested flame, pure as the moon, lord of stars traversing the sky, blazing like the sun free of stormclouds <j>after the rains; seeing him, he was joyful, brimming with happiness.
Sau khi thấy Thái tử rực cháy như ngọn lửa, như ngôi sao chúa trong sạch đi trên bầu trời, như mặt trời mùa thu tỏa sáng thoát khỏi mây, ngài sinh lòng hoan hỷ và có được niềm hỷ lạc to lớn.
Anekasākhañca sahassamaṇḍalaṁ, Chattaṁ marū dhārayumantalikkhe; Suvaṇṇadaṇḍā vītipatanti cāmarā, Na dissare cāmarachattagāhakā.
The celestials held up a parasol in the sky, many-ribbed and thousand-circled; and golden-handled chowries waved—but none could see who held <j>the chowries or the parasols.
Chư thiên che trên không trung chiếc lọng có nhiều gọng và ngàn vòng; những chiếc phất trần có cán bằng vàng phất qua lại, nhưng không thấy những người cầm phất trần và lọng.
Disvā jaṭī kaṇhasirivhayo isi, Suvaṇṇanikkhaṁ viya paṇḍukambale; Setañca chattaṁ dhariyanta muddhani, Udaggacitto sumano paṭiggahe.
When the matted hair seer named “Dark Splendor” had seen the boy like a gold ingot on a cream rug with a white parasol held over his head, he received him, elated and happy.
Vị đạo sĩ bện tóc tên là Kaṇhasiri, sau khi thấy Thái tử như một khối vàng trên tấm thảm len màu vàng, và chiếc lọng trắng được che trên đầu, với tâm hân hoan và vui mừng, đã đón nhận ngài.
Paṭiggahetvā pana sakyapuṅgavaṁ, Jigīsako lakkhaṇamantapāragū; Pasannacitto giramabbhudīrayi, “Anuttarāyaṁ dvipadānamuttamo”.
Having received the Sakyan bull, the seeker, master of marks and hymns, lifted up his voice with confident heart: “He is supreme, the best of men!”
Sau khi bồng thái tử, bậc ưu tú của dòng Sakya, vị ẩn sĩ thông suốt tướng pháp và chú thuật, trong khi khảo sát bằng trí tuệ, với tâm trong sáng đã thốt lên lời rằng: 'Vị này là bậc tối thượng, không ai hơn trong các loài hai chân'.
Athattano gamanamanussaranto, Akalyarūpo gaḷayati assukāni; Disvāna sakyā isimavocuṁ rudantaṁ, “No ce kumāre bhavissati antarāyo”.
But then, remembering he would depart this world, his spirits fell and his tears flowed. Seeing the weeping seer, the Sakyans said, “Surely there will be no threat to the boy?”
Rồi sau đó, khi suy niệm về cảnh giới mình sẽ đến, với vẻ không vui, vị ấy đã rơi lệ. Thấy vị ẩn sĩ đang khóc, những người dòng Sakya đã hỏi rằng: 'Phải chăng sẽ có điều nguy hiểm xảy ra cho thái tử?'.
Disvāna sakye isimavoca akalye, “Nāhaṁ kumāre ahitamanussarāmi; Na cāpimassa bhavissati antarāyo, Na orakāyaṁ adhimānasā bhavātha.
Seeing the crestfallen Sakyans, the seer said, “I do not forsee harm befall the boy, and there will be no threat to him, not in the least; set your minds at ease.
Thấy những người dòng Sakya không vui, vị ẩn sĩ nói: 'Ta không nghĩ đến điều bất lợi nào cho thái tử. Cũng sẽ không có điều nguy hiểm nào xảy ra cho ngài. Vị này không phải là người tầm thường, các vị hãy hoan hỷ lên'.
Sambodhiyaggaṁ phusissatāyaṁ kumāro, So dhammacakkaṁ paramavisuddhadassī; Vattessatāyaṁ bahujanahitānukampī, Vitthārikassa bhavissati brahmacariyaṁ.
This boy shall reach the highest awakening. As one of perfectly purified vision, <j>compassionate for the welfare of the many, he shall roll forth the wheel of the teaching; his spiritual path will become widespread.
Vị thái tử này sẽ chứng đắc sự giác ngộ tối thượng. Vị ấy, người thấy được sự thanh tịnh tối thượng, với lòng bi mẫn vì lợi ích của nhiều người, sẽ chuyển vận bánh xe Pháp. Đời sống phạm hạnh của vị ấy sẽ được lan rộng.
Mamañca āyu na ciramidhāvaseso, Athantarā me bhavissati kālakiriyā; Sohaṁ na sossaṁ asamadhurassa dhammaṁ, Tenamhi aṭṭo byasanaṅgato aghāvī”.
But I have not long left in this life, I shall die before then. I will never hear the teaching of the one <j>who bore the unequaled burden. That’s why I’m so upset and distraught—<j>it’s a disaster for me!”
Và tuổi thọ của ta ở đây không còn bao lâu nữa, rồi ta sẽ qua đời trong khoảng thời gian đó. Ta sẽ không được nghe giáo pháp của vị có nghị lực không ai sánh bằng. Vì thế, ta đau khổ, gặp bất hạnh và sầu muộn.
So sākiyānaṁ vipulaṁ janetvā pītiṁ, Antepuramhā niggamā brahmacārī; So bhāgineyyaṁ sayaṁ anukampamāno, Samādapesi asamadhurassa dhamme.
Having brought abundant happiness to the Sakyans, the spiritual seeker left the royal compound. He had a nephew; and out of sympathy he encouraged him in the teaching <j>of the one who bore the unequaled burden.
Vị ấy, sau khi làm phát sinh niềm hỷ lạc lớn lao cho những người dòng Sakya, vị phạm hạnh đã rời khỏi cung điện. Do lòng bi mẫn, vị ấy đã khuyến khích người cháu của mình trong giáo pháp của vị có nghị lực không ai sánh bằng.
“Buddhoti ghosaṁ yada parato suṇāsi, Sambodhipatto vivarati dhammamaggaṁ; Gantvāna tattha samayaṁ paripucchamāno, Carassu tasmiṁ bhagavati brahmacariyaṁ”.
“When you hear the voice of another saying <j>‘Buddha’—one who has attained awakening <j>and who reveals the foremost teaching—go there and ask about his breakthrough; lead the spiritual life under that Blessed One.”
Khi nào về sau, con nghe được tiếng đồn 'Đức Phật', (và rằng) vị đã đạt được giác ngộ đang mở bày con đường Pháp, hãy đi đến đó, hỏi về giáo pháp và thực hành đời sống phạm hạnh nơi Đức Thế Tôn ấy.
Tenānusiṭṭho hitamanena tādinā, Anāgate paramavisuddhadassinā; So nālako upacitapuññasañcayo, Jinaṁ patikkhaṁ parivasi rakkhitindriyo.
Now, that Nālaka had a store of accumulated merit; so when instructed by one of such kindly intent, with perfectly purified vision of the future, he waited anticipating the Victor, <j>guarding his senses.
Được vị ấy, người có tâm mong cầu lợi ích, bậc Như Nhiên, người thấy được sự thanh tịnh tối thượng trong tương lai, chỉ dạy, Nālaka ấy, người đã tích lũy công đức, đã sống (đời xuất gia) bảo vệ các căn, trong khi chờ đợi Đấng Chiến Thắng.
Sutvāna ghosaṁ jinavaracakkavattane, Gantvāna disvā isinisabhaṁ pasanno; Moneyyaseṭṭhaṁ munipavaraṁ apucchi, Samāgate asitāvhayassa sāsaneti.
When he heard of the Victor rolling forth <j>the excellent wheel he went to him, and seeing the boss seer, he became confident. The time of Asita’s instruction had arrived; so he asked the excellent sage <j>about the highest sagacity.
Nghe tiếng đồn về sự chuyển vận bánh xe của Đấng Chiến Thắng cao quý, sau khi đi đến và thấy vị ẩn sĩ bậc ngưu vương, với tâm trong sáng, khi lời dạy của vị tên Asita đã đến lúc, vị ấy đã hỏi bậc Mâu-ni tối thượng về pháp mâu-ni cao quý nhất.
Vatthugāthā niṭṭhitā.
The introductory verses are finished.
Phần kệ kể chuyện đã kết thúc.
“Aññātametaṁ vacanaṁ, Asitassa yathātathaṁ; Taṁ taṁ gotama pucchāmi, Sabbadhammāna pāraguṁ.
“I now know that Asita’s words have turned out to be true. I ask you this, Gotama, who has gone beyond all things:
Lời nói này của Asita, con đã biết là đúng như thật. Vì thế, hỡi Gotama, con xin hỏi Ngài, bậc đã đến bờ bên kia của tất cả các pháp.
Anagāriyupetassa, Bhikkhācariyaṁ jigīsato; Muni pabrūhi me puṭṭho, Moneyyaṁ uttamaṁ padaṁ”.
For one who has entered the homeless life, seeking food on alms round, when questioned, O sage, please tell me of sagacity, the ultimate state.”
Đối với con, người đã sống đời không nhà, người mong muốn thực hành việc khất thực, hỡi bậc Mâu-ni, khi được con hỏi, xin Ngài hãy nói rõ về pháp mâu-ni, trạng thái tối thượng.
“Moneyyaṁ te upaññissaṁ, (iti bhagavā) Dukkaraṁ durabhisambhavaṁ; Handa te naṁ pavakkhāmi, Santhambhassu daḷho bhava.
“I shall school you in sagacity,” said the Buddha, “so difficult and challenging. Come, I shall tell you all about it. Brace yourself; stay strong!
(Đức Thế Tôn phán:) 'Ta sẽ giảng cho ngươi về pháp mâu-ni, điều khó làm, khó thành tựu. Này, Ta sẽ nói cho ngươi nghe về pháp ấy. Hãy tự mình nỗ lực, hãy trở nên kiên cố'.
Samānabhāgaṁ kubbetha, Gāme akkuṭṭhavanditaṁ; Manopadosaṁ rakkheyya, Santo anuṇṇato care.
In the village, keep the same attitude no matter if reviled or praised. Guard against ill-tempered thoughts; wander peaceful and humble.
Trong làng, hãy đối xử bình đẳng với sự mắng nhiếc và đảnh lễ. Hãy giữ gìn tâm khỏi sân hận. Người hiền thiện nên đi lại mà không tự cao.
Uccāvacā niccharanti, Dāye aggisikhūpamā; Nāriyo muniṁ palobhenti, Tā su taṁ mā palobhayuṁ.
Many different things come up, like tongues of fire in a forest. Women try to seduce a sage—let them not seduce you!
Những thứ cao và thấp, giống như ngọn lửa, phát sinh trong rừng. Những người phụ nữ cám dỗ vị mâu-ni; mong rằng họ đừng cám dỗ được ngươi.
Virato methunā dhammā, Hitvā kāme paropare; Aviruddho asāratto, Pāṇesu tasathāvare.
Refraining from sex, having left behind sensual pleasures high and low, don’t be hostile or attached to living creatures firm or frail.
Hãy từ bỏ pháp dâm dục, sau khi đã từ bỏ các dục vọng cao thấp; đối với các chúng sanh, đang run sợ hay đứng yên, hãy không chống đối, không tham ái.
Yathā ahaṁ tathā ete, Yathā ete tathā ahaṁ; Attānaṁ upamaṁ katvā, Na haneyya na ghātaye.
‘As am I, so are they; as are they, so am I’—Treating others like oneself, neither kill nor incite to kill.
Như ta thế nào, chúng cũng thế ấy; như chúng thế nào, ta cũng thế ấy. Lấy mình làm ví dụ, không nên giết, không nên sai giết.
Hitvā icchañca lobhañca, Yattha satto puthujjano; Cakkhumā paṭipajjeyya, Tareyya narakaṁ imaṁ.
Leaving behind desire and greed for what ordinary people are attached to, one whose eye is clear would set out to practice, they’d cross over this abyss.
Hãy từ bỏ sự mong muốn và lòng tham, nơi mà phàm phu bị dính mắc. Người có mắt (trí tuệ) nên thực hành, và nên vượt qua địa ngục này.
Ūnūdaro mitāhāro, Appicchassa alolupo; Sadā icchāya nicchāto, Aniccho hoti nibbuto.
With empty stomach, taking limited food, few in wishes, not greedy; truly hungerless regarding all desires, desireless, one is quenched.
Nên ăn ít, ăn có chừng mực; nên ít mong muốn, không tham lam. Luôn luôn không có mong muốn bởi (sự kiểm soát) mong muốn, người không mong muốn sẽ được tịch tịnh.
Sa piṇḍacāraṁ caritvā, Vanantamabhihāraye; Upaṭṭhito rukkhamūlasmiṁ, Āsanūpagato muni.
Having wandered for alms, they’d take themselves into the forest; and nearing the foot of a tree, the sage would take their seat.
Vị ấy, sau khi đi khất thực, nên đi đến bìa rừng. Vị mâu-ni nên đứng, hoặc đến chỗ ngồi tại gốc cây.
Sa jhānapasuto dhīro, Vanante ramito siyā; Jhāyetha rukkhamūlasmiṁ, Attānamabhitosayaṁ.
That attentive one intent on absorption, would delight within the forest. They’d practice absorption at the foot of a tree, filling themselves with bliss.
Vị ấy, bậc trí chuyên tâm vào thiền định, nên thích thú trong rừng. Nên thiền định tại gốc cây, làm cho chính mình hoan hỷ.
Tato ratyā vivasāne, Gāmantamabhihāraye; Avhānaṁ nābhinandeyya, Abhihārañca gāmato.
Then, at the end of the night, they’d take themselves into a village. They’d not welcome being called, nor offerings brought from the village.
Sau đó, khi đêm đã qua, nên đi đến làng. Không nên vui thích với lời mời, cũng không nên vui thích với vật cúng dường mang đến từ làng.
Na munī gāmamāgamma, Kulesu sahasā care; Ghāsesanaṁ chinnakatho, Na vācaṁ payutaṁ bhaṇe.
A sage who has come to a village would not walk hastily among the families. They’d not discuss their search for food, nor would they speak suggestively.
Vị mâu-ni, sau khi đến làng, không nên hành xử một cách vội vàng trong các gia đình. Nên nói năng ngắn gọn, không nên nói những lời nói liên quan đến việc tìm kiếm thức ăn.
Alatthaṁ yadidaṁ sādhu, Nālatthaṁ kusalaṁ iti; Ubhayeneva so tādī, Rukkhaṁvupanivattati.
‘I got something, that’s good. I got nothing, that’s fine.’ Unaffected in both cases, they return right to the tree.
'Cái gì đã nhận được, điều này là tốt; cái gì không nhận được, điều đó cũng tốt.' Vị ấy, bậc Như Nhiên, bởi cả hai trường hợp, quay về (dửng dưng) như một cái cây.
Sa pattapāṇi vicaranto, Amūgo mūgasammato; Appaṁ dānaṁ na hīḷeyya, Dātāraṁ nāvajāniyā.
Wandering with bowl in hand, not dumb, but thought to be dumb, they wouldn’t scorn a tiny gift, nor look down upon the giver.
Vị ấy, tay cầm bát đi lại, không phải người câm nhưng được xem như người câm. Không nên chê bai vật thí nhỏ, không nên coi thường người thí chủ.
Uccāvacā hi paṭipadā, Samaṇena pakāsitā; Na pāraṁ diguṇaṁ yanti, Nayidaṁ ekaguṇaṁ mutaṁ.
For the practice has many aspects, as revealed by the Ascetic. They do not go to the far shore twice, nor having gone once do they fall away.
Quả thật, con đường thực hành có cao có thấp, đã được vị Sa-môn tuyên thuyết. Họ không đến bờ bên kia hai lần, và điều này cũng không được hiểu là (đến) một lần.
Yassa ca visatā natthi, Chinnasotassa bhikkhuno; Kiccākiccappahīnassa, Pariḷāho na vijjati.
When a mendicant has no creeping, and has cut the stream of craving, and given up all the various duties, no fever is found in them.
Đối với vị tỳ-kheo nào không có sự lan tràn của ái dục, người đã cắt đứt dòng ái, người đã từ bỏ việc nên làm và không nên làm, vị ấy không có sự nóng nảy (phiền não).
Moneyyaṁ te upaññissaṁ, Khuradhārūpamo bhave; Jivhāya tālumāhacca, Udare saññato siyā.
I shall school you in sagacity. Practice as if you were licking a razor’s edge. With tongue pressed against the roof of your mouth, be restrained regarding your stomach.
Ta sẽ giảng cho ngươi về pháp mâu-ni. Hãy giống như lưỡi dao cạo. Chạm lưỡi vào vòm miệng, hãy chế ngự trong bụng (việc ăn uống).
Alīnacitto ca siyā, Na cāpi bahu cintaye; Nirāmagandho asito, Brahmacariyaparāyaṇo.
Don’t be sluggish in mind, nor think overly much. Be free of putrefaction and unattached, committed to the spiritual life.
Nên có tâm không co rút, và cũng không nên suy nghĩ nhiều. Nên không có mùi hôi của phiền não, không bị dính mắc, có đời sống phạm hạnh là mục tiêu cuối cùng.
Ekāsanassa sikkhetha, Samaṇūpāsanassa ca; Ekattaṁ monamakkhātaṁ, Eko ce abhiramissasi; Atha bhāhisi dasadisā.
Train in a lonely seat, attending closely to ascetics; solitude is sagacity, they say. If you welcome solitude, you’ll light up the ten directions.
Nên học tập việc ngồi một mình, và việc thực hành của sa-môn. Sự đơn độc được gọi là pháp mâu-ni. Nếu ngươi thích thú với sự đơn độc, thì ngươi sẽ tỏa sáng khắp mười phương.
Sutvā dhīrānaṁ nighosaṁ, Jhāyīnaṁ kāmacāginaṁ; Tato hiriñca saddhañca, Bhiyyo kubbetha māmako.
Having heard the words of the attentive, the meditators who’ve given up sensual desires, a follower of mine would develop conscience and faith all the more.
Sau khi nghe lời tuyên bố của bậc trí tuệ, những người hành thiền, những người đã từ bỏ dục lạc; sau đó, người đệ tử của ta nên làm cho tàm và tín tăng trưởng nhiều hơn nữa.
Taṁ nadīhi vijānātha, Sobbhesu padaresu ca; Saṇantā yanti kusobbhā, Tuṇhī yanti mahodadhī.
Understand this by the way streams move in clefts and crevices: the little creeks flow on resounding, while silent flow the great rivers.
Hãy hiểu điều ấy qua ví dụ về các dòng sông, trong các khe suối và kẽ nứt. Các dòng suối nhỏ chảy đi với tiếng ồn ào, còn các đại dương thì im lặng.
Yadūnakaṁ taṁ saṇati, Yaṁ pūraṁ santameva taṁ; Aḍḍhakumbhūpamo bālo, Rahado pūrova paṇḍito.
What is lacking, resounds; what is full is at peace. The fool is like a half-full pot; the wise like a brimfull lake.
Cái gì vơi thì kêu, cái gì đầy thì chính là yên lặng. Kẻ ngu giống như cái lu vơi một nửa, bậc trí tuệ giống như hồ nước đầy.
Yaṁ samaṇo bahuṁ bhāsati, Upetaṁ atthasañhitaṁ; Jānaṁ so dhammaṁ deseti, Jānaṁ so bahu bhāsati.
When the Ascetic speaks much it is relevant and meaningful: knowing, he teaches the Dhamma; knowing, he speaks much.
Bất cứ điều gì vị Sa-môn nói nhiều, đều có ý nghĩa và lợi ích. Vị ấy biết, nên thuyết giảng Chánh pháp; vị ấy biết, nên nói nhiều.
Yo ca jānaṁ saṁyatatto, Jānaṁ na bahu bhāsati; Sa munī monamarahati, Sa munī monamajjhagā”ti.
But one who, knowing, is self-controlled, knowing, does not speak much; that sage is worthy of sagacity, that sage has achieved sagacity.”
Và người nào biết, tự chế ngự, biết mà không nói nhiều; vị mâu-ni ấy xứng đáng với trạng thái mâu-ni, vị mâu-ni ấy đã đạt được trạng thái mâu-ni.
Nālakasuttaṁ ekādasamaṁ.
Kinh Nālaka, phẩm thứ mười một, đã chấm dứt.