- Sutta Nipāta 3.10
Kokālikasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Kokālikasutta
“Bởi vì đối với người đã được sanh ra, có lưỡi rìu được sanh ra cho người ấy, kẻ ngu tự cắt đứt bản thân với nó, trong khi nói lời nói xấu xa.
Kẻ nào khen ngợi người đáng bị chê bai, hoặc chê bai người đáng được khen ngợi, kẻ ấy tích lũy lầm lỗi bởi cái miệng, do lầm lỗi ấy không tìm thấy sự an lạc.
Lầm lỗi này, việc thất thoát tài sản thậm chí toàn bộ (của cải) cùng với bản thân ở các con súc sắc, là có tầm cỡ nhỏ nhoi. Kẻ nào khởi tâm ý xấu xa dối với các bậc đã đi đến trạng thái tốt lành, chính lầm lỗi này là lớn lao hơn.
Sau khi buông xuống lời nói và ý nghĩ ác xấu, kẻ quở trách các bậc Thánh nhân đi đến địa ngục là ba triệu sáu trăm ngàn (địa ngục) Nirabbuda và năm (địa ngục) Abbuda.
Người có lời nói không thật đi địa ngục, hoặc luôn cả người nào sau khi làm đã nói rằng: ‘Tôi không làm;’ cả hai người ấy, có hành động thấp kém, sau khi chết (đọa) vào cảnh giới khác là giống như nhau.
Kẻ nào bôi nhọ người không bị ô nhiễm, người trong sạch, không vết nhơ, điều xấu xa quay về chính kẻ ngu ấy, ví như bụi bặm li ti được tung ra ngược chiều gió.
Kẻ nào đeo bám các bản chất của tham, kẻ ấy chê bai những người khác bàng lời nói, là kẻ không có niềm tin, keo kiệt, là kẻ không biết đến lời giảng huấn, bỏn xẻn, là kẻ đeo đuổi việc nói đâm thọc.
Này kẻ ăn nói thô lỗ, thiếu chân thật, không thánh thiện, kẻ đồi trụy, ác độc, kẻ làm hành động xấu xa, kẻ khốn cùng, xúi quẩy, kẻ hạ căn, ngươi chớ nói nhiều ở nơi đây; ngươi là hạng người ở địa ngục.
Ngươi gieo rắc bụi bặm (phiền não) vào sự bất hạnh (của chinh ngươi), ngươi quở trách những bậc đức độ, ngươi là kẻ làm điều sái quấy. Và sau khi thực hành nhiều uế hạnh, ngươi đương nhiên sẽ đi đến đọa xứ trong thời gian lâu dài.
Bởi vì nghiệp của bất cứ một ai đều không bị tiêu hoại, chủ nhân (của việc đã làm) đương nhiên gánh chịu nghiệp ấy. Kẻ ngu muội, kẻ làm điều sái quấy, nhìn thấy khổ đau ở bản thân mình vào đời sau.
Kẻ ấy đi đến cọc sắt có cạnh sắc bén, nơi chốn (có hình phạt) bị đâm xuyên bằng giáo sắt, rồi có vật thực giống như hòn sắt bị nung cháy đỏ, tương xứng (với nghiệp đã làm) như thế ấy.
Trong khi nói, đương nhiên họ (những cai ngục) không nói ngọt ngào, họ không vồn vã (tiếp đón). Chúng (những kẻ đọa địa ngục) đi đến nơi không phải là chốn nương thân. Chúng nằm ở nơi đã được lót trải than hừng, chúng đi vào đám lửa đã được bốc cháy.
Và sau khi chụp xuống bằng tấm lưới (sắt), tại nơi ấy họ (những cai ngục) đánh đập (chúng) với những chiếc búa làm bằng sắt. Chúng (những kẻ đọa địa ngục) đi đến bóng tối vô cùng mờ mịt, bóng tối ấy trải rộng khắp giống như sương mù.
Rồi chúng còn đi vào cái lu làm bằng đồng có đám lửa đã được bốc cháy. Thật vậy, chúng bị nung nấu trong những cái lu ấy một thời gian dài, trồi lên hụp xuống trong những đám lửa.
Rồi trong đám máu mủ bị trộn lẫn, kẻ làm điều sái quấy bị nung nấu ở tại nơi ấy. Bất kỳ phương hướng nào gã nương tựa vào, tại nơi ấy gã đều bị lem luốc trong khi xúc chạm (với mủ và máu).
Ở trong nước, chỗ trú ngụ của các loài giòi bọ, kẻ làm điều sái quấy bị nung nấu ở tại nơi ấy. Cũng chẳng có bến bờ để đi ra, bởi vì xung quanh cái chảo nấu tất cả đều bằng phẳng.
Hơn nữa, chúng (những kẻ đọa địa ngục) còn đi vào khu rừng Asipatta (Gươm Lá) sắc bén, (và) có thân thể bị băm nát. Họ (những cai ngục) nắm lấy cái lưỡi với các móc câu, kéo tới kéo lui, rồi đánh đập (chúng).
Rồi chúng còn đi đến (dòng sông) Vetaraṇī, có cạnh sắc bén, có lưỡi dao cạo, khó lội qua. Kẻ ngu muội, kẻ làm điều ác đọa vào nơi ấy sau khi đã làm các điều ác.
Bởi vì trong khi chúng đang khóc lóc ở tại nơi ấy, những con chó màu đen, có đốm, và những bầy quạ đen gặm nhấm chúng, những con chó rừng thèm khát, những con diều hâu và những con chim quạ rỉa rói chúng.
Lối hành xử này ở nơi đây quả là khó khăn, hạng người làm điều sái quấy nhìn thấy điều này. Vì thế, trong quãng đời còn lại ở thế gian này, nên là người thực hành phận sự, không nên xao lãng.
Những cỗ xe chở hạt mè so sánh với (thời gian ở) địa ngục Paduma đã được các bậc hiểu biết tính đếm là năm mươi nghìn koṭi (5 x 10.000 x 10 triệu = 500 tỷ) thêm vào một ngàn hai trăm koṭi (12 x 100 x 10 triệu = 12 tỷ) nữa.
Các địa ngục khổ đau đến chừng nào, thậm chí còn phải sống lâu ở nơi ấy đến chừng ấy, đã được nói đến ở đây; vì thế, nên thận trọng giữ gìn lời nói và ý nghĩ đối với những bậc có đức hạnh trong sạch, hiền thiện, và tốt lành.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Kinh Tập (Suttanipāta). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
10. Kinh Kokālika
Tôi nghe như vầy. Một thời, Đức Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, tịnh xá của ông Anāthapiṇḍika. Rồi thì, Tỳ-khưu Kokālika đi đến nơi Đức Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Đức Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tỳ-khưu Kokālika đã bạch với Đức Thế Tôn rằng: – “Bạch Thế Tôn, Sāriputta và Moggallāna có những ác dục, đã bị các ác dục chi phối.”
Evaṁ vutte, bhagavā kokālikaṁ bhikkhuṁ etadavoca: “mā hevaṁ, kokālika, mā hevaṁ, kokālika. Pasādehi, kokālika, sāriputtamoggallānesu cittaṁ. Pesalā sāriputtamoggallānā”ti.
When this was said, the Buddha said to Kokālika, “Don’t say that, Kokālika! Don’t say that, Kokālika! Have confidence in Sāriputta and Moggallāna, they’re good monks.”
Khi được nói như vậy, đức Thế Tôn đã bảo tỳ khưu Kokālika điều này: "Này Kokālika, đừng nói như vậy! Này Kokālika, đừng nói như vậy! Này Kokālika, hãy làm cho tâm ý trong sạch đối với Sāriputta và Moggallāna. Sāriputta và Moggallāna là những người khả ái."
Dutiyampi kho …pe… tatiyampi kho kokāliko bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca: “kiñcāpi me, bhante, bhagavā saddhāyiko paccayiko, atha kho pāpicchāva sāriputtamoggallānā, pāpikānaṁ icchānaṁ vasaṁ gatā”ti. Tatiyampi kho bhagavā kokālikaṁ bhikkhuṁ etadavoca: “mā hevaṁ, kokālika, mā hevaṁ, kokālika. Pasādehi, kokālika, sāriputtamoggallānesu cittaṁ. Pesalā sāriputtamoggallānā”ti.
For a second time … For a third time Kokālika said to the Buddha, “Despite my faith and trust in the Buddha, Sāriputta and Moggallāna have corrupt wishes. They’ve fallen under the sway of corrupt wishes.” For a third time, the Buddha said to Kokālika, “Don’t say that, Kokālika! Don’t say that, Kokālika! Have confidence in Sāriputta and Moggallāna, they’re good monks.”
Lần thứ hai... Lần thứ ba, tỳ khưu Kokālika bạch với đức Thế Tôn điều này: "Bạch ngài, mặc dù đức Thế Tôn là người đáng tin, đáng cậy đối với con, tuy nhiên Sāriputta và Moggallāna quả thật có ác dục, đã bị các ước muốn xấu xa chi phối." Lần thứ ba, đức Thế Tôn đã bảo tỳ khưu Kokālika điều này: "Này Kokālika, đừng nói như vậy! Này Kokālika, đừng nói như vậy! Này Kokālika, hãy làm cho tâm ý trong sạch đối với Sāriputta và Moggallāna. Sāriputta và Moggallāna là những người khả ái."
Atha kho kokāliko bhikkhu uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi. Acirappakkantassa ca kokālikassa bhikkhuno sāsapamattīhi piḷakāhi sabbo kāyo phuṭo ahosi; sāsapamattiyo hutvā muggamattiyo ahesuṁ; muggamattiyo hutvā kaḷāyamattiyo ahesuṁ; kaḷāyamattiyo hutvā kolaṭṭhimattiyo ahesuṁ; kolaṭṭhimattiyo hutvā kolamattiyo ahesuṁ; kolamattiyo hutvā āmalakamattiyo ahesuṁ; āmalakamattiyo hutvā beḷuvasalāṭukamattiyo ahesuṁ; beḷuvasalāṭukamattiyo hutvā billamattiyo ahesuṁ; billamattiyo hutvā pabhijjiṁsu; pubbañca lohitañca pagghariṁsu. Atha kho kokāliko bhikkhu tenevābādhena kālamakāsi. Kālaṅkato ca kokāliko bhikkhu padumaṁ nirayaṁ upapajji sāriputtamoggallānesu cittaṁ āghātetvā.
Then Kokālika rose from his seat, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before leaving. Not long after he left his body erupted with boils the size of mustard seeds. The boils grew to the size of mung beans, then chickpeas, then jujube seeds, then jujubes, then myrobalans, then unripe wood-apples, then ripe wood-apples. Finally they burst open, and pus and blood oozed out. Then the mendicant Kokālika died of that illness. He was reborn in the Pink Lotus hell because of his resentment for Sāriputta and Moggallāna.
Bấy giờ, tỳ khưu Kokālika từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, đi nhiễu quanh theo chiều bên phải rồi ra đi. Không bao lâu sau khi ra đi, toàn thân của tỳ khưu Kokālika nổi đầy những mụn nhọt to bằng hạt cải; từ bằng hạt cải, chúng trở nên to bằng hạt đậu xanh; từ bằng hạt đậu xanh, chúng trở nên to bằng hạt đậu ván; từ bằng hạt đậu ván, chúng trở nên to bằng hột táo; từ bằng hột táo, chúng trở nên to bằng quả táo; từ bằng quả táo, chúng trở nên to bằng quả me rừng; từ bằng quả me rừng, chúng trở nên to bằng quả bilva non; từ bằng quả bilva non, chúng trở nên to bằng quả bilva chín; rồi chúng vỡ ra, mủ và máu chảy tuôn. Bấy giờ, tỳ khưu Kokālika đã mệnh chung vì chính căn bệnh ấy. Sau khi mệnh chung, tỳ khưu Kokālika đã sanh vào địa ngục Paduma do đã có tâm sân hận đối với Sāriputta và Moggallāna.
Atha kho brahmā sahampati abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho brahmā sahampati bhagavantaṁ etadavoca: “kokāliko, bhante, bhikkhu kālaṅkato; kālaṅkato ca, bhante, kokāliko bhikkhu padumaṁ nirayaṁ upapanno sāriputtamoggallānesu cittaṁ āghātetvā”ti. Idamavoca brahmā sahampati; idaṁ vatvā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyi.
Then, late at night, the glorious divinity Sahampati, lighting up the entire Jeta’s Grove, went up to the Buddha, bowed, stood to one side, and said to him, “Sir, the mendicant Kokālika has passed away. He was reborn in the Pink Lotus hell because of his resentment for Sāriputta and Moggallāna.” That is what the divinity Sahampati said. Then he bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before vanishing right there.
Bấy giờ, khi đêm đã gần tàn, Phạm thiên Sahampati với dung sắc thù thắng, chiếu sáng toàn bộ tu viện Jetavana, đã đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, vị ấy đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, Phạm thiên Sahampati bạch với đức Thế Tôn điều này: "Bạch ngài, tỳ khưu Kokālika đã mệnh chung. Bạch ngài, sau khi mệnh chung, tỳ khưu Kokālika đã sanh vào địa ngục Paduma do đã có tâm sân hận đối với Sāriputta và Moggallāna." Phạm thiên Sahampati đã nói điều này; sau khi nói điều này, vị ấy đảnh lễ đức Thế Tôn, đi nhiễu quanh theo chiều bên phải rồi biến mất tại chỗ.
Atha kho bhagavā tassā rattiyā accayena bhikkhū āmantesi: “imaṁ, bhikkhave, rattiṁ brahmā sahampati abhikkantāya rattiyā …pe… idamavoca, bhikkhave, brahmā sahampati, idaṁ vatvā maṁ padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyī”ti.
Then, when the night had passed, the Buddha told the mendicants all that had happened.
Bấy giờ, sau khi đêm ấy đã qua, đức Thế Tôn gọi các tỳ khưu: "Này các tỳ khưu, đêm nay, khi đêm đã gần tàn, Phạm thiên Sahampati... Này các tỳ khưu, Phạm thiên Sahampati đã nói điều này, sau khi nói điều này, vị ấy đi nhiễu quanh ta theo chiều bên phải rồi biến mất tại chỗ."
Evaṁ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca: “kīvadīghaṁ nu kho, bhante, padume niraye āyuppamāṇan”ti? “Dīghaṁ kho, bhikkhu, padume niraye āyuppamāṇaṁ; taṁ na sukaraṁ saṅkhātuṁ ettakāni vassāni iti vā ettakāni vassasatāni iti vā ettakāni vassasahassāni iti vā ettakāni vassasatasahassāni iti vā”ti. “Sakkā pana, bhante, upamā kātun”ti? “Sakkā, bhikkhū”ti bhagavā avoca:
When he said this, one of the mendicants said to the Buddha, “Sir, how long is the lifespan in the Pink Lotus hell?” “It’s long, mendicant. It’s not easy to calculate how many years, how many hundreds or thousands or hundreds of thousands of years it lasts.” “But sir, is it possible to give a simile?” “It’s possible,” said the Buddha.
Khi được nói như vậy, một tỳ khưu bạch với đức Thế Tôn điều này: "Bạch ngài, tuổi thọ ở địa ngục Paduma dài bao lâu?" "Này tỳ khưu, tuổi thọ ở địa ngục Paduma quả thật là dài; không dễ để tính đếm rằng 'chừng ấy năm,' hay 'chừng ấy trăm năm,' hay 'chừng ấy ngàn năm,' hay 'chừng ấy trăm ngàn năm.'" "Bạch ngài, có thể nào đưa ra một ví dụ được không?" Đức Thế Tôn đáp: "Này tỳ khưu, có thể."
“Seyyathāpi, bhikkhu, vīsatikhāriko kosalako tilavāho; tato puriso vassasatassa vassasatassa accayena ekamekaṁ tilaṁ uddhareyya. Khippataraṁ kho so bhikkhu vīsatikhāriko kosalako tilavāho iminā upakkamena parikkhayaṁ pariyādānaṁ gaccheyya, na tveva eko abbudo nirayo. Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati abbudā nirayā evameko nirabbudo nirayo. Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati nirabbudā nirayā evameko ababo nirayo. Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati ababā nirayā evameko aṭaṭo nirayo. Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati aṭaṭā nirayā evameko ahaho nirayo. Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati ahahā nirayā evameko kumudo nirayo. Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati kumudā nirayā evameko sogandhiko nirayo. Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati sogandhikā nirayā evameko uppalako nirayo. Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati uppalakā nirayā evameko puṇḍarīko nirayo. Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati puṇḍarīkā nirayā evameko padumo nirayo. Padumaṁ kho pana bhikkhu nirayaṁ kokāliko bhikkhu upapanno sāriputtamoggallānesu cittaṁ āghātetvā”ti. Idamavoca bhagavā. Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Suppose there was a Kosalan load of twenty packs of sesame seed. And at the end of every hundred years someone would remove a single seed from it. By this means the Kosalan load of twenty packs of sesame seed would run out faster than a single lifetime in the Abbuda hell. Now, twenty lifetimes in the Abbuda hell equal one lifetime in the Nirabbuda hell. Twenty lifetimes in the Nirabbuda hell equal one lifetime in the Ababa hell. Twenty lifetimes in the Ababa hell equal one lifetime in the Aṭaṭa hell. Twenty lifetimes in the Aṭaṭa hell equal one lifetime in the Ahaha hell. Twenty lifetimes in the Ahaha hell equal one lifetime in the Yellow Lotus hell. Twenty lifetimes in the Yellow Lotus hell equal one lifetime in the Fragrant Water Lily hell. Twenty lifetimes in the Fragrant Water Lily hell equal one lifetime in the Blue Water Lily hell. Twenty lifetimes in the Blue Water Lily hell equal one lifetime in the White Lotus hell. Twenty lifetimes in the White Lotus hell equal one lifetime in the Pink Lotus hell. The mendicant Kokālika has been reborn in the Pink Lotus hell because of his resentment for Sāriputta and Moggallāna.” That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
"Này tỳ khưu, ví như có một cỗ xe của xứ Kosala chứa hai mươi khāri mè; từ đó, cứ sau mỗi một trăm năm, một người lấy ra một hạt mè. Này tỳ khưu, cỗ xe hai mươi khāri mè của xứ Kosala ấy theo cách thức này sẽ mau chóng hết sạch, chứ một địa ngục Abbuda thì không. Này tỳ khưu, ví như hai mươi địa ngục Abbuda thì bằng một địa ngục Nirabbuda. Này tỳ khưu, ví như hai mươi địa ngục Nirabbuda thì bằng một địa ngục Ababa. Này tỳ khưu, ví như hai mươi địa ngục Ababa thì bằng một địa ngục Ahaha. Này tỳ khưu, ví như hai mươi địa ngục Ahaha thì bằng một địa ngục Aṭaṭa. Này tỳ khưu, ví như hai mươi địa ngục Aṭaṭa thì bằng một địa ngục Kumuda. Này tỳ khưu, ví như hai mươi địa ngục Kumuda thì bằng một địa ngục Sogandhika. Này tỳ khưu, ví như hai mươi địa ngục Sogandhika thì bằng một địa ngục Uppalaka. Này tỳ khưu, ví như hai mươi địa ngục Uppalaka thì bằng một địa ngục Puṇḍarīka. Này tỳ khưu, ví như hai mươi địa ngục Puṇḍarīka thì bằng một địa ngục Paduma. Này tỳ khưu, tỳ khưu Kokālika đã sanh vào địa ngục Paduma do đã có tâm sân hận đối với Sāriputta và Moggallāna." Đức Thế Tôn đã nói điều này, sau khi nói điều này, bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư lại nói thêm điều này:
“Purisassa hi jātassa, kuṭhārī jāyate mukhe; Yāya chindati attānaṁ, bālo dubbhāsitaṁ bhaṇaṁ.
“A person is born with an axe in their mouth. A fool cuts themselves with it when they say bad words.
"Cái rìu sanh trong miệng, của người được sanh ra; kẻ ngu tự chặt mình, khi nói lời ác ngữ."
Yo nindiyaṁ pasaṁsati, Taṁ vā nindati yo pasaṁsiyo; Vicināti mukhena so kaliṁ, Kalinā tena sukhaṁ na vindati.
When you praise someone worthy of criticism, or criticize someone worthy of praise, you choose a losing hand with your own mouth: you’ll never find happiness that way.
"Người tán dương kẻ đáng chê, hay chê bai người đáng tán dương; người ấy tích chứa điều bất hạnh bằng miệng, do điều bất hạnh ấy mà không tìm thấy an lạc."
Appamatto ayaṁ kali, Yo akkhesu dhanaparājayo; Sabbassāpi sahāpi attanā, Ayameva mahattaro kali; Yo sugatesu manaṁ padosaye.
A losing hand at dice is a trivial thing, if all you lose is your money and all you own, even yourself. What’s a really terrible hand is to hate the holy ones.
"Thật là bất hạnh nhỏ, việc thua mất tài sản trong cờ bạc, cùng với cả bản thân mình; đây mới là điều bất hạnh lớn hơn nhiều: người nào làm cho tâm sanh khởi sân hận đối với các bậc Thiện Thệ."
Sataṁ sahassānaṁ nirabbudānaṁ, Chattiṁsati pañca ca abbudāni; Yamariyagarahī nirayaṁ upeti, Vācaṁ manañca paṇidhāya pāpakaṁ.
For a hundred thousand times a hundred million, times five hundred and thirty-six times <j>a thousand times ten million years a slanderer of noble ones goes to hell, having aimed bad words and thoughts at them.
"Một trăm ngàn Nirabbuda, ba mươi sáu và năm Abbuda, là thời gian mà người phỉ báng bậc Thánh phải sanh vào địa ngục, do đã hướng lời nói và tâm ý đến điều ác."
Abhūtavādī nirayaṁ upeti, Yo vāpi katvā na karomicāha; Ubhopi te pecca samā bhavanti, Nihīnakammā manujā parattha.
A liar goes to hell, as does one who denies what they did. Both are equal in the hereafter, those men of base deeds.
"Người nói điều không thật sẽ sanh vào địa ngục, và cả người đã làm mà lại nói 'tôi không làm'; cả hai người ấy, sau khi chết, đều như nhau, là những người có hành vi thấp kém ở đời sau."
Yo appaduṭṭhassa narassa dussati, Suddhassa posassa anaṅgaṇassa; Tameva bālaṁ pacceti pāpaṁ, Sukhumo rajo paṭivātaṁva khitto.
Whoever wrongs a man who has done no wrong, a pure man who has not a blemish, the evil backfires on the fool, like fine dust thrown upwind.
“Kẻ nào hãm hại người không sân hận, người trong sạch không phiền não; việc ác ấy quay trở lại chính kẻ ngu đó, như bụi mịn được ném ngược chiều gió.”
Yo lobhaguṇe anuyutto, So vacasā paribhāsati aññe; Asaddho kadariyo avadaññū, Macchari pesuṇiyaṁ anuyutto.
One addicted to the way of greed, abuses others with their speech, faithless, miserly, uncharitable, stingy, addicted to backbiting.
“Kẻ nào dính mắc vào lòng tham, kẻ ấy dùng lời nói mắng nhiếc người khác; không đức tin, keo kiệt, không biết ơn, bủn xỉn, dính mắc vào việc nói đâm thọc.”
Mukhadugga vibhūta anariya, Bhūnahu pāpaka dukkaṭakāri; Purisanta kalī avajāta, Mā bahubhāṇidha nerayikosi.
Foul-mouthed, divisive, ignoble, a baby-killer, wicked, wrongdoer, worst of men, cursed, base-born—quiet now, for you are bound for hell.
“Hỡi kẻ miệng lưỡi xấu xa, kẻ không chân thật, kẻ phi Thánh, kẻ phá hoại lợi ích, kẻ ác độc, kẻ thường làm điều ác; hỡi kẻ hạ tiện, kẻ bất hạnh, kẻ hạ sanh, ngươi đừng nói nhiều ở đây, ngươi là kẻ sẽ sanh vào địa ngục.”
Rajamākirasī ahitāya, Sante garahasi kibbisakārī; Bahūni duccaritāni caritvā, Gacchasi kho papataṁ cirarattaṁ.
You stir up dust, causing harm, when you, sinner, malign the good. Having done many bad deeds, you’ll go to the pit for a long time.
“Ngươi rắc bụi bẩn vì điều bất lợi, ngươi khiển trách các bậc hiền thiện, hỡi kẻ làm điều ác; sau khi đã làm nhiều điều ác, ngươi chắc chắn sẽ đi đến vực thẳm trong thời gian dài.”
Na hi nassati kassaci kammaṁ, Eti hataṁ labhateva suvāmi; Dukkhaṁ mando paraloke, Attani passati kibbisakārī.
For no one’s deeds are ever lost, they return to their owner. In the next life that stupid sinner sees suffering in themselves.
“Nghiệp của bất cứ ai cũng không hề mất đi, nó sẽ đến và người chủ của nó sẽ nhận lấy; kẻ ngu si làm điều ác sẽ thấy sự đau khổ nơi chính mình ở đời sau.”
Ayosaṅkusamāhataṭṭhānaṁ, Tiṇhadhāramayasūlamupeti; Atha tattaayoguḷasannibhaṁ, Bhojanamatthi tathā patirūpaṁ.
They approach the place of impalement, with its iron spikes, sharp blades, and iron stakes. Then there is the food, which appropriately, is like a red-hot iron ball.
“Người ấy đi đến nơi bị đóng đầy chông sắt, đến cọc sắt có lưỡi bén; rồi có thức ăn tương xứng (với nghiệp) là những quả cầu sắt nóng bỏng.”
Na hi vaggu vadanti vadantā, Nābhijavanti na tāṇamupenti; Aṅgāre santhate sayanti, Ginisampajjalitaṁ pavisanti.
For the speakers speak not sweetly, they don’t hurry there, or find shelter. They lie upon a spread of coals, they enter a blazing mass of fire.
“Những kẻ nói (quỷ sứ) không nói lời dễ nghe, không đến gần một cách tử tế, không đến để che chở; họ nằm trên thảm than hồng, đi vào ngọn lửa bừng cháy.”
Jālena ca onahiyāna, Tattha hananti ayomayakuṭebhi; Andhaṁva timisamāyanti, Taṁ vitatañhi yathā mahikāyo.
Wrapping them in a net, they strike them there with iron hammers. They come to blinding darkness, which spreads about them like a fog.
“Bị bao bọc bởi lưới sắt, ở đó họ bị đánh đập bằng búa sắt; họ đi vào bóng tối dày đặc như kẻ mù, bóng tối đó trải rộng như mặt đất.”
Atha lohamayaṁ pana kumbhiṁ, Ginisampajjalitaṁ pavisanti; Paccanti hi tāsu cirarattaṁ, Agginisamāsu samuppilavāte.
Next they enter a copper pot, a blazing mass of fire. There they roast for a long time, writhing in the masses of fire.
“Rồi họ đi vào vạc đồng đang bừng cháy; họ bị nấu trong những vạc đầy lửa đó, trồi lên hụp xuống trong thời gian dài.”
Atha pubbalohitamisse, Tattha kiṁ paccati kibbisakārī; Yaṁ yaṁ disakaṁ adhiseti, Tattha kilissati samphusamāno.
Then the sinner roasts there in a mixture of pus and blood. No matter where they settle, everything they touch there hurts them.
“Rồi kẻ làm điều ác bị nấu trong vạc trộn lẫn mủ và máu; bất cứ phương hướng nào người ấy đi đến, ở đó người ấy cũng bị đau khổ khi tiếp xúc.”
Puḷavāvasathe salilasmiṁ, Tattha kiṁ paccati kibbisakārī; Gantuṁ na hi tīramapatthi, Sabbasamā hi samantakapallā.
The sinner roasts in worm-infested water. There’s not even a shore to go to, for all around are the same kind of pots.
“Trong nước là nơi ở của giòi bọ, ở đó kẻ làm điều ác bị nấu; không có bờ để đi đến, vì cái vạc xung quanh tất cả đều bằng nhau.”
Asipattavanaṁ pana tiṇhaṁ, Taṁ pavisanti samucchidagattā; Jivhaṁ balisena gahetvā, Ārajayārajayā vihananti.
They enter the Sword-Leaf Forest, so sharp they cut their body to pieces. Having grabbed the tongue with a hook, they stab it, slashing back and forth.
“Rồi họ đi vào rừng lá kiếm sắc bén với thân thể bị cắt nát; (quỷ sứ) dùng móc câu nắm lấy lưỡi, kéo qua kéo lại mà hành hạ.”
Atha vetaraṇiṁ pana duggaṁ, Tiṇhadhārakhuradhāramupenti; Tattha mandā papatanti, Pāpakarā pāpāni karitvā.
Then they approach the impassable Vetaraṇī River, with its sharp blades, its razor blades. Dullards fall into it, the wicked who have done wicked deeds.
“Rồi họ đến sông Vetaraṇī khó đi qua, có lưỡi bén như dao cạo; những kẻ ngu si làm điều ác, sau khi đã làm những việc ác, rơi xuống đó.”
Khādanti hi tattha rudante, Sāmā sabalā kākolagaṇā ca; Soṇā siṅgālā paṭigiddhā, Kulalā vāyasā ca vitudanti.
There dogs all brown and spotted, and raven flocks, and greedy jackals devour them as they wail, while hawks and crows attack them.
“Ở đó, những người đang khóc lóc bị những con chó và chó rừng màu đen và lốm đốm ăn thịt; đàn quạ, diều hâu và quạ tham lam cũng mổ.”
Kicchā vatayaṁ idha vutti, Yaṁ jano phusati kibbisakārī; Tasmā idha jīvitasese, Kiccakaro siyā naro na cappamajje.
Hard, alas, is the life here that sinners endure. That’s why for the rest of this life a person ought do their duty without fail.
“Thật khổ sở thay cuộc sống ở đây mà người làm điều ác phải trải qua! Do đó, khi mạng sống còn lại ở cõi này, con người nên làm điều cần làm và không nên dễ duôi.”
Te gaṇitā vidūhi tilavāhā, Ye padume niraye upanītā; Nahutāni hi koṭiyo pañca bhavanti, Dvādasa koṭisatāni punaññā.
Experts have counted the loads of sesame as compared to the Pink Lotus hell. For there are five times ten thousand times ten million, plus another twelve hundred times ten million years—
“Những xe chở mè được các bậc trí giả tính toán, được đưa ra (làm ví dụ) cho địa ngục Paduma. (Thời gian ở đó) là năm mươi ngàn koti và một ngàn hai trăm koti khác.”
Yāva dukhā nirayā idha vuttā, Tatthapi tāva ciraṁ vasitabbaṁ; Tasmā sucipesalasādhuguṇesu, Vācaṁ manaṁ satataṁ parirakkhe”ti.
as painful as life is said to be in hell, that’s how long one must dwell there. That’s why, for those who are pure, well-behaved, <j>full of good qualities, one should always guard one’s speech and mind.”
“Các địa ngục được nói ở đây khổ đau đến chừng nào, thì cũng phải ở đó lâu dài chừng ấy; do đó, đối với những bậc có đức hạnh tốt đẹp, thanh tịnh, đáng yêu mến, hãy luôn luôn hộ trì lời nói và ý.”
Kokālikasuttaṁ dasamaṁ.
Kinh Kokālika, phẩm thứ mười, kết thúc.