- Sutta Nipāta 3.9
Vāseṭṭhasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Vāseṭṭhasutta
“Thưa ngài, chúng tôi tinh thông ba tập Vệ Đà, đã được truyền thụ và đã được công nhận. Tôi là (học trò) của Pokkharasāti, và thanh niên này là (học trò) của Tārukkha.
Điều nào đã được thuyết giảng bởi các vị tinh thông ba tập Vệ Đà, chúng tôi đã được hoàn hảo về lãnh vực ấy. Chúng tôi là nhà ngữ học, nhà văn phạm, tương đương với các vị thầy về sự hiểu biết.
Thưa ngài Gotama, giữa chúng tôi đây có sự tranh cãi về đề tài nòi giống: ‘Bà-la-môn là do nòi giống,’ Bhāradvāja nói như thế; còn tôi nói là do hành động. Thưa bậc Hữu Nhãn, xin ngài nhận biết như vậy.
Cả hai chúng tôi đây không thể thuyết phục lẫn nhau, và đã đi đến để hỏi đức Thế Tôn, vị được biết tiếng là ‘bậc Toàn Giác.’
Giống như những người tiến đến, tay chắp lại, nghiêng mình đảnh lễ mặt trăng đã qua thời kỳ khuyết (đang tròn dần), tương tự như vậy chúng tôi nghiêng mình đảnh lễ đức Gotama ở thế gian.
Chúng tôi hỏi đức Gotama, bậc đã thành tựu con mắt ở thế gian rằng: ‘Do nòi giống là Bà-la-môn, hay trở thành (Bà-la-môn) là do hành động? Xin ngài hãy nói lên cho chúng tôi, những người không biết, nhờ vậy chúng tôi có thể biết được về vị Bà-la-môn.”
(Đức Thế Tôn nói “Này Vāseṭṭha,) Ta sẽ giải thích cho các ngươi đây sự phân loại về nòi giống của các loài sinh vật một cách tuần tự, đúng theo bản thể; chính các sự khác biệt là các nòi giống.
Các ngươi hãy nhận biết về cỏ và cây cối. Dầu chúng không cho biết (về nòi giống), đặc điểm của chúng tạo nên nòi giống; chính các sự khác biệt là các nòi giống.
Kế đến, (hãy nhận biết) về các loại côn trùng, và các loại châu chấu, cho đến các loại kiến, mối, đặc điểm của chúng tạo nên nòi giống; chính các sự khác biệt là các nòi giống.
Các ngươi cũng hãy nhận biết về các loài bốn chân, nhỏ bé và to lớn, đặc điểm của chúng tạo nên nòi giống; chính các sự khác biệt là các nòi giống.
Các ngươi cũng hãy nhận biết về các loài rắn, về các loài bò sát có lưng dài, đặc điểm của chúng tạo nên nòi giống; chính các sự khác biệt là các nòi giống.
Kế đến, các ngươi cũng hãy nhận biết về các loài cá, về các loài thủy tộc, sống ở trong nước, đặc điểm của chúng tạo nên nòi giống; chính các sự khác biệt là các nòi giống.
Kế đến, các ngươi cũng hãy nhận biết về các loài chim, về các loài có sự di chuyển bằng cặp cánh, đi lại ở không trung, đặc điểm của chúng tạo nên nòi giống; chính các sự khác biệt là các nòi giống.
Giống như ở các nòi giống này, đặc điểm tạo nên nòi giống là đa dạng, còn đặc điểm tạo nên nòi giống ở loài người thì không đa dạng như vậy.
Không phải bởi mái tóc, không phải bởi đầu, không phải bởi các tai, không phải bởi các con mắt, không phải bởi miệng, không phải bởi mũi, không phải bởi đôi môi, hoặc bởi cặp lông mày.
Không phải do cổ, không phải do hai vai, không phải do bụng, không phải do lưng, không phải do tử cung, không phải do bộ ngực, không phải ở vật kín (nữ căn), không phải ở tinh hoàn.
Không phải bởi hai tay, không phải bởi hai chân, không phải bởi các ngón hoặc bởi các móng (tay chân), không phải bởi các bắp đùi, không phải bởi các bắp vế, không phải bởi màu da, hoặc bởi giọng nói, đặc điểm không tạo nên nòi giống (ở loài người) như là ở các nòi giống khác.
Tính chất khác biệt này ở các (phần) thân thể không tìm thấy ở loài người. Và cách gọi thông dụng ở loài người được nói lên là do sự định đặt.
Bởi vì kẻ nào ở loài người nuôi sống bằng việc chăn giữ bò, kẻ ấy là nông dân không phải Bà-la-môn, này Vāseṭṭha, ngươi hãy biết như vậy.
Bởi vì kẻ nào ở loài người sinh sống bằng nghề nghiệp khác nhau, kẻ ấy là thợ thuyền không phải Bà-la-môn, này Vāseṭṭha, ngươi hãy biết như vậy.
Bởi vì kẻ nào ở loài người nuôi sống bằng việc mua bán, kẻ ấy là thương gia không phải Bà-la-môn, này Vāseṭṭha, ngươi hãy biết như vậy.
Bởi vì kẻ nào ở loài người sinh sống bằng việc hầu hạ người khác, kẻ ấy là tôi tớ không phải Bà-la-môn, này Vāseṭṭha, ngươi hãy biết như vậy.
Bởi vì kẻ nào ở loài người nuôi sống bằng vật không được cho, kẻ ấy là trộm cướp không phải Bà-la-môn, này Vāseṭṭha, ngươi hãy biết như vậy.
Bởi vì kẻ nào ở loài người nuôi sống bằng thuật bằng thuật bắn cung, kẻ ấy là chiến sĩ không phải Bà-la-môn, này Vāseṭṭha, ngươi hãy biết như vậy.
Bởi vì kẻ nào ở loài người sinh sống bằng việc tế lễ, kẻ ấy là người cống hiến không phải Bà-la-môn, này Vāseṭṭha, ngươi hãy biết như vậy.
Bởi vì kẻ nào ở loài người hưởng thụ làng mạc và xứ sở, kẻ ấy là nhà vua không phải Bà-la-môn, này Vāseṭṭha, ngươi hãy biết như vậy.
Và Ta không gọi là Bà-la-môn với kẻ đã được sanh ra từ tử cung (của nữ Bà-la-môn), có sự xuất thân theo người mẹ, kẻ ấy được gọi là ‘người có sự xưng hô với từ Ông’ nếu kẻ ấy có sở hữu gì đó. Còn vị không sở hữu gì, không nắm giữ, Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn.
Thật vậy, người nào đã cắt đứt tất cả ràng buộc, không run sợ, đã vượt qua các sự dính líu, không còn bị ràng buộc, Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn.
Người đã cắt đứt dây buộc (sân hận), dây trói (tham ái), dây thừng (62 tà kiến), cùng với vật phụ tùng (các pháp tiềm ẩn), đã nâng lên thanh chắn (vô minh), đã được giác ngộ, Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn.
Người nào chịu đựng lời khiển trách, sự trừng phạt và giam cầm, mà không sân hận, người có kham nhẫn là sức mạnh, có sức mạnh là quân đội, Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn.
Người không nóng giận, có sự hành trì, có giới, không nhiễm dục vọng, đã được rèn luyện, có thân xác cuối cùng, Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn.
Ví như nước ở lá sen, ví như hột cải ở đầu mũi kim, người nào không nhiễm bẩn trong các dục, Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn.
Người nào nhận biết sự diệt trừ khổ đau của bản thân ngay tại chỗ này, đã đặt xuống gánh nặng, không bị ràng buộc, Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn.
Người có tuệ thâm sâu, thông minh, rành rẽ về Đạo Lộ và không phải Đạo Lộ, đã đạt đến mục đích tối thượng, Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn.
Người không gần gũi với cả hai hạng: những người tại gia và những bậc xuất gia, sống không trú xứ, ít ham muốn, Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn.
Sau khi bỏ xuống gậy gộc đối với các chúng sanh di chuyển và đứng yên, người nào không giết hại, không bảo giết hại, Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn.
Người không thù nghịch giữa những kẻ thù nghịch, tịnh lặng giữa những kẻ có gậy gộc, không cố chấp giữa những kẻ cố chấp, Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn.
Người nào có sự luyến ái, sân hận, ngã mạn, và gièm pha đã được rơi rụng, ví như hột cải rơi khỏi đầu mũi kim, Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn.
Người thốt lên lời nói chân thật, không thô lỗ, ý nghĩa rõ ràng, không làm mất lòng bất cứ ai với lời nói ấy, Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn.
Ở thế gian này, người nào không lấy đi vật không được cho, dầu là dài hay ngắn, nhỏ hay lớn, đẹp hay xấu, Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn.
Những mong cầu của người nào về đời này và đời sau không còn tìm thấy, người không mong cầu, không bị ràng buộc, Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn.
Những tham muốn của người nào không còn tìm thấy, là vị đã biết rõ, không còn nghi ngờ, đã đạt đến sự thể nhập Bất Tử, Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn.
Ở thế gian này, người nào đã vượt qua sự quyến luyến và cả hai pháp thiện và ác, không sầu muộn, không ô nhiễm, trong sạch, Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn.
Ví như mặt trăng không bị lấm nhơ, trong sạch, người có tâm thanh tịnh, không bị vẩn đục, đã hoàn toàn cạn kiệt sự vui thích và hiện hữu, Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn.
Người nào đã vượt qua con đường hiểm trở này, khó đi, (vòng quay) luân hồi, và sự si mê, đã băng qua, đã đi đến bờ kia, có thiền, không dục vọng, không nghi ngờ, không chấp thủ, đã tịnh lặng, Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn.
Người nào ở đây có thể dứt bỏ các dục, sống hạnh du sĩ, không nhà, đã hoàn toàn cạn kiệt các dục và hiện hữu, Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn.
Người nào ở đây có thể dứt bỏ tham ái, sống hạnh du sĩ, không nhà, đã hoàn toàn cạn kiệt tham ái và hiện hữu, Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn.
Người đã từ bỏ sự gắn bó thuộc cõi người, đã vượt lên sự gắn bó thuộc cõi trời, không bị ràng buộc với mọi sự gắn bó, Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn.
Người đã từ bỏ sự thích thú và không thích thú, có trạng thái mát mẻ, không còn mầm tái sanh, vị đã chế ngự tất cả thế gian, bậc anh hùng, Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn.
Người nào đã hiểu biết sự chết và sự tái sanh của chúng sinh về mọi phương diện, không bám víu, đã đi đến nơi an lạc, đã được giác ngộ, Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn.
Cảnh giới tái sanh của người nào mà chư Thiên, Càn-thát-bà, và loài người không biết được, người có lậu hoặc đã được cạn kiệt, là bậc A-la-hán, Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn.
Đối với người nào, ở phía trước (quá khứ), phía sau (vị lai), và ở phần giữa (hiện tại) không có sở hữu gì, người không sở hữu gì, không nắm giữ, Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn.
Đấng nhân ngưu, bậc cao quý, bậc anh hùng, bậc đại ẩn sĩ, bậc chiến thắng, bậc không còn dục vọng, người đã rửa sạch (mọi nhiễm ô), đã được giác ngộ, Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn.
Người nào biết về kiếp sống trước, nhìn thấy cõi Trời và đọa xứ, rồi đạt đến sự diệt trừ tái sanh, Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn.
Việc ấy chỉ là sự định đặt ở thế gian, tên và họ là đã được sắp xếp, đã được khởi lên do sự thỏa thuận chung, đã được xếp dặt ở từng trường hợp.
Tà kiến của những kẻ không biết đã được tiềm ẩn một cách lâu dài. Trong khi không biết, chúng tuyên bố rằng: ‘Bà-la-môn là do nòi giống.’
Không phải do nòi giống là Bà-la-môn, không phải do nòi giống là phi Bà-la-môn, do hành động là Bà-la-môn, do hành động là phi Bà-la-môn.
Nông dân là do hành động, thợ thuyền là do hành động, thương gia là do hành động, tôi tớ là do hành động.
Trộm cướp cũng là do hành động, chiến sĩ cũng là do hành động, người cống hiến là do hành động, nhà vua cũng là do hành động.
Việc này là như vậy, các bậc sáng suốt, có sự nhìn thấy pháp tùy thuận sanh khởi, rành rẽ về quả thành tựu của nghiệp, nhìn thấy hành động đúng theo bản thể.
Thế gian xoay vần do hành động, loài người xoay vần do hành động, chúng sinh có sự gắn chặt vào hành động, tựa như cái chốt ở trục của chiếc xe đang di chuyển.
Do khắc khổ, do sự thực hành Phạm hạnh, do sự kiềm chế bản thân, và do sự rèn luyện, do điều ấy trở thành Bà-la-môn; tư cách Bà-la-môn này là tối thượng.
Đối với những người hiểu biết, người đã được thành tựu ba Minh, an tịnh, có sự tái sanh đã được cạn kiệt, là đấng Phạm Thiên, là Thiên Chủ Sakka, này Vāseṭṭha, ngươi hãy biết như vậy.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Kinh Tập (Suttanipāta). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
9. Kinh Vāseṭṭha
Tôi nghe như vầy—Một thời, Thế Tôn trú tại Icchānaṅgala, trong một khu rừng gần Icchānaṅgala. Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị Bà-la-môn đại phú, rất danh tiếng, đang cư ngụ tại Icchānaṅgala, đó là: Bà-la-môn Caṅkī, Bà-la-môn Tārukkha, Bà-la-môn Pokkharasāti, Bà-la-môn Jāṇussoṇi, Bà-la-môn Todeyya, và các vị Bà-la-môn đại phú danh tiếng khác. Bấy giờ, khi hai thanh niên Vāseṭṭha và Bhāradvāja đang đi kinh hành, đi đi lại lại để dãn gân cốt, một cuộc thảo luận đã khởi lên giữa họ: 'Thưa ngài, do đâu một người trở thành Bà-la-môn?'
Bhāradvājo māṇavo evamāha: “yato kho, bho, ubhato sujāto hoti mātito ca pitito ca saṁsuddhagahaṇiko yāva sattamā pitāmahayugā akkhitto anupakkuṭṭho jātivādena, ettāvatā kho bho brāhmaṇo hotī”ti.
Bhāradvāja said this: “When you’re well born on both your mother’s and father’s side, stemming from a clean vessel, with irrefutable and impeccable genealogy back to the seventh paternal generation—then you’re a brahmin.”
Thanh niên Bhāradvāja nói như sau: 'Thưa ngài, khi một người có xuất thân tốt đẹp từ cả hai phía, từ mẹ và từ cha, có thai sanh trong sạch cho đến bảy đời tổ phụ, không bị chê bai, không bị chỉ trích về mặt dòng dõi, thưa ngài, chỉ với chừng ấy thôi, một người trở thành Bà-la-môn.'
Vāseṭṭho māṇavo evamāha: “yato kho, bho, sīlavā ca hoti vatasampanno ca, ettāvatā kho, bho, brāhmaṇo hotī”ti. Neva kho asakkhi bhāradvājo māṇavo vāseṭṭhaṁ māṇavaṁ saññāpetuṁ, na pana asakkhi vāseṭṭho māṇavo bhāradvājaṁ māṇavaṁ saññāpetuṁ.
Vāseṭṭha said this: “When you’re ethical and accomplished in doing your duties—then you’re a brahmin.” But neither was able to persuade the other.
Thanh niên Vāseṭṭha nói như sau: 'Thưa ngài, khi một người có giới hạnh và đầy đủ phẩm hạnh, thưa ngài, chỉ với chừng ấy thôi, một người trở thành Bà-la-môn.' Nhưng thanh niên Bhāradvāja đã không thể thuyết phục được thanh niên Vāseṭṭha, và thanh niên Vāseṭṭha cũng không thể thuyết phục được thanh niên Bhāradvāja.
Atha kho vāseṭṭho māṇavo bhāradvājaṁ māṇavaṁ āmantesi: “ayaṁ kho, bho bhāradvāja, samaṇo gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito icchānaṅgale viharati icchānaṅgalavanasaṇḍe; taṁ kho pana bhavantaṁ gotamaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato: ‘itipi …pe… buddho bhagavā’ti. Āyāma, bho bhāradvāja, yena samaṇo gotamo tenupasaṅkamissāma; upasaṅkamitvā samaṇaṁ gotamaṁ etamatthaṁ pucchissāma. Yathā no samaṇo gotamo byākarissati tathā naṁ dhāressāmā”ti. “Evaṁ, bho”ti kho bhāradvājo māṇavo vāseṭṭhassa māṇavassa paccassosi.
So Vāseṭṭha said to Bhāradvāja, “Worthy Bhāradvāja, the ascetic Gotama—a Sakyan, gone forth from a Sakyan family—is staying in a forest near Icchānaṅgala. He has this good reputation: ‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’ Come, let’s go to see him and ask him about this matter. As he answers, so we’ll remember it.” “Yes, worthy sir,” replied Bhāradvāja.
Khi ấy, thanh niên Vāseṭṭha nói với thanh niên Bhāradvāja: 'Này bạn Bhāradvāja, có Sa-môn Gotama, là một Thích tử, đã xuất gia từ dòng họ Thích Ca, đang trú tại Icchānaṅgala, trong khu rừng Icchānaṅgala. Tiếng lành đồn xa về Tôn giả Gotama như sau: 'Ngài là... (v.v.)... một vị Phật, một đấng Thế Tôn.' Này bạn Bhāradvāja, chúng ta hãy đi đến chỗ Sa-môn Gotama; sau khi đến, chúng ta sẽ hỏi Sa-môn Gotama về vấn đề này. Sa-môn Gotama sẽ trả lời chúng ta như thế nào, chúng ta sẽ ghi nhớ như vậy.' 'Được lắm, thưa bạn,' thanh niên Bhāradvāja đáp lời thanh niên Vāseṭṭha.
Atha kho vāseṭṭhabhāradvājā māṇavā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodiṁsu. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinno kho vāseṭṭho māṇavo bhagavantaṁ gāthāhi ajjhabhāsi:
So they went to the Buddha and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, they sat down to one side, and Vāseṭṭha addressed the Buddha in verse:
Khi ấy, hai thanh niên Vāseṭṭha và Bhāradvāja đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, họ cùng Thế Tôn trao đổi lời chào hỏi thân mật. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi đáng ghi nhớ, họ ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thanh niên Vāseṭṭha bạch với Thế Tôn bằng những câu kệ:
“Anuññātapaṭiññātā, tevijjā mayamasmubho; Ahaṁ pokkharasātissa, tārukkhassāyaṁ māṇavo.
“We’re both authorized masters of the three Vedas. I’m a student of Pokkharasāti, and he of Tārukkha.
'Chúng con cả hai đều được công nhận và thừa nhận là người thông suốt Tam Veda; Con là đệ tử của Pokkharasāti, còn thanh niên này là của Tārukkha.'
Tevijjānaṁ yadakkhātaṁ, Tatra kevalinosmase; Padakasma veyyākaraṇā, Jappe ācariyasādisā.
We’re fully qualified in all the Vedic experts teach. As philologists and grammarians, we match our tutors in recitation.
'Trong những gì được tuyên thuyết của Tam Veda, chúng con là những người thông thạo toàn bộ; Chúng con là những nhà từ vựng học, những nhà ngữ pháp học, và trong việc tụng đọc, chúng con ngang bằng với các vị thầy.'
Tesaṁ no jātivādasmiṁ, vivādo atthi gotama; Jātiyā brāhmaṇo hoti, bhāradvājo iti bhāsati; Ahañca kammunā brūmi, evaṁ jānāhi cakkhuma.
We have a dispute regarding genealogy. For Bhāradvāja says that one is a brahmin due to birth, but I declare it’s because of one’s deeds. Oh Clear-eyed One, know this as our debate.
'Thưa ngài Gotama, chúng con có sự tranh luận về vấn đề dòng dõi; Bhāradvāja nói rằng một người trở thành Bà-la-môn do dòng dõi; Còn con thì nói là do hành động (kamma), xin ngài, bậc có Thiên nhãn, hãy biết cho như vậy.'
Te na sakkoma saññāpetuṁ, aññamaññaṁ mayaṁ ubho; Bhavantaṁ puṭṭhumāgamhā, sambuddhaṁ iti vissutaṁ.
Since neither of us was able to convince the other, we’ve come to ask you, sir, renowned as the awakened one.
'Chúng con cả hai đều không thể thuyết phục được nhau; Chúng con đã đến để hỏi ngài, người nổi danh là bậc Chánh Đẳng Giác.'
Candaṁ yathā khayātītaṁ, pecca pañjalikā janā; Vandamānā namassanti, evaṁ lokasmi gotamaṁ.
As people honor with cupped palms the moon on the cusp of waxing, bowing, they revere Gotama in the world.
'Như người ta chắp tay cung kính, đảnh lễ mặt trăng tròn sau khi đã qua tuần khuyết; Cũng vậy, trong thế gian này, người ta đảnh lễ ngài Gotama.'
Cakkhuṁ loke samuppannaṁ, mayaṁ pucchāma gotamaṁ; Jātiyā brāhmaṇo hoti, udāhu bhavati kammunā; Ajānataṁ no pabrūhi, yathā jānemu brāhmaṇaṁ”.
We ask this of Gotama, the Eye arisen in the world: is one a brahmin due to birth, or else because of deeds? We don’t know, please tell us, so we can recognize a brahmin.”
'Chúng con xin hỏi ngài Gotama, người đã sinh ra như con mắt cho thế gian; Một người trở thành Bà-la-môn là do dòng dõi, hay là do hành động? Xin ngài hãy giảng giải cho chúng con, những người không biết, để chúng con có thể biết thế nào là một Bà-la-môn'.
“Tesaṁ vo ahaṁ byakkhissaṁ, (vāseṭṭhāti bhagavā) Anupubbaṁ yathātathaṁ; Jātivibhaṅgaṁ pāṇānaṁ, Aññamaññā hi jātiyo.
“I shall explain to you,” said the Buddha, “accurately and in sequence, the taxonomy of living creatures, for species are indeed diverse.
(Thế Tôn phán:) 'Này Vāseṭṭha, Ta sẽ giảng giải cho các ngươi, một cách tuần tự và đúng như thật; Sự phân loại dòng dõi của các chúng sinh, vì thật sự các dòng dõi là khác nhau.'
Tiṇarukkhepi jānātha, na cāpi paṭijānare; Liṅgaṁ jātimayaṁ tesaṁ, aññamaññā hi jātiyo.
Know the grass and trees, though they lack self-awareness. They’re defined by birth, for species are indeed diverse.
“Các ngươi hãy biết về cỏ cây, chúng cũng không tự nhận (mình là cỏ cây); đặc điểm của chúng là do dòng giống, vì các dòng giống thì khác nhau.
Tato kīṭe paṭaṅge ca, yāva kunthakipillike; Liṅgaṁ jātimayaṁ tesaṁ, aññamaññā hi jātiyo.
Next there are bugs that crawl or fly, and so on, to ants and termites. They’re defined by birth, for species are indeed diverse.
“Rồi đến các loài côn trùng, châu chấu, cho đến các loài kiến và mối; đặc điểm của chúng là do dòng giống, vì các dòng giống thì khác nhau.
Catuppadepi jānātha, Khuddake ca mahallake; Liṅgaṁ jātimayaṁ tesaṁ, Aññamaññā hi jātiyo.
Know the quadrupeds, too, both small and large. They’re defined by birth, for species are indeed diverse.
“Các ngươi hãy biết về các loài bốn chân, cả loài nhỏ lẫn loài lớn; đặc điểm của chúng là do dòng giống, vì các dòng giống thì khác nhau.
Pādūdarepi jānātha, Urage dīghapiṭṭhike; Liṅgaṁ jātimayaṁ tesaṁ, Aññamaññā hi jātiyo.
Know, too, the long-backed snakes, crawling on their bellies. They’re defined by birth, for species are indeed diverse.
“Các ngươi hãy biết về các loài bò sát, loài rắn có lưng dài, đi bằng bụng; đặc điểm của chúng là do dòng giống, vì các dòng giống thì khác nhau.
Tato macchepi jānātha, Odake vārigocare; Liṅgaṁ jātimayaṁ tesaṁ, Aññamaññā hi jātiyo.
Next know the fish, whose habitat is the water. They’re defined by birth, for species are indeed diverse.
“Rồi các ngươi hãy biết về loài cá, sinh sống trong nước, kiếm ăn trong nước; đặc điểm của chúng là do dòng giống, vì các dòng giống thì khác nhau.
Tato pakkhīpi jānātha, Pattayāne vihaṅgame; Liṅgaṁ jātimayaṁ tesaṁ, Aññamaññā hi jātiyo.
Next know the birds, winged chariots in flight. They’re defined by birth, for species are indeed diverse.
“Rồi các ngươi hãy biết về loài chim, đi bằng cánh, bay trên trời; đặc điểm của chúng là do dòng giống, vì các dòng giống thì khác nhau.
Yathā etāsu jātīsu, Liṅgaṁ jātimayaṁ puthu; Evaṁ natthi manussesu, Liṅgaṁ jātimayaṁ puthu.
While the differences between these species are defined by birth, the differences between humans are not defined by birth.
“Như trong các dòng giống này, đặc điểm do dòng giống thì riêng biệt; cũng vậy, ở loài người không có đặc điểm do dòng giống mà riêng biệt.
Na kesehi na sīsena, Na kaṇṇehi na akkhibhi; Na mukhena na nāsāya, Na oṭṭhehi bhamūhi vā.
Not by hair nor by head, not by ear nor by eye, not by mouth nor by nose, not by lips nor by eyebrow,
“(Sự khác biệt) không do tóc, không do đầu, không do tai, không do mắt; không do miệng, không do mũi, không do môi, hay do lông mày.
Na gīvāya na aṁsehi, Na udarena na piṭṭhiyā; Na soṇiyā na urasā, Na sambādhe na methune.
not by shoulder nor by neck, not by belly nor by back, not by buttocks nor by breast, not by groin nor by genitals,
“Không do cổ, không do vai, không do bụng, không do lưng; không do hông, không do ngực, không do bộ phận sinh dục, không do sự giao hợp.
Na hatthehi na pādehi, Nāṅgulīhi nakhehi vā; Na jaṅghāhi na ūrūhi, Na vaṇṇena sarena vā; Liṅgaṁ jātimayaṁ neva, Yathā aññāsu jātisu.
not by hands nor by feet, not by fingers nor by nails, not by knees nor by thighs, not by color nor by voice: none of these are defined by birth as it is for other species.
“Không do tay, không do chân, không do ngón tay, hay do móng; không do cẳng chân, không do đùi, không do màu da, hay do giọng nói; đặc điểm do dòng giống hoàn toàn không có, như ở các dòng giống khác.
Paccattañca sarīresu, Manussesvetaṁ na vijjati; Vokārañca manussesu, Samaññāya pavuccati.
In specific human bodies you can’t find such distinctions. The distinctions among humans are spoken of by convention.
“Trong thân thể của mỗi cá nhân loài người, điều này không tồn tại. Sự phân biệt ở loài người chỉ được nói đến do quy ước.
Yo hi koci manussesu, Gorakkhaṁ upajīvati; Evaṁ vāseṭṭha jānāhi, Kassako so na brāhmaṇo.
Anyone among humans who lives off keeping cattle: know them, Vāseṭṭha, as a farmer, not a brahmin.
“Bất cứ ai trong loài người sống bằng nghề chăn bò, này Vāseṭṭha, hãy biết rằng, người ấy là nông dân, không phải là Bà-la-môn.
Yo hi koci manussesu, Puthusippena jīvati; Evaṁ vāseṭṭha jānāhi, Sippiko so na brāhmaṇo.
Anyone among humans who lives off various professions: know them, Vāseṭṭha, as a professional, not a brahmin.
“Bất cứ ai trong loài người sống bằng các nghề thủ công khác nhau, này Vāseṭṭha, hãy biết rằng, người ấy là thợ thủ công, không phải là Bà-la-môn.
Yo hi koci manussesu, Vohāraṁ upajīvati; Evaṁ vāseṭṭha jānāhi, Vāṇijo so na brāhmaṇo.
Anyone among humans who lives off trade: know them, Vāseṭṭha, as a trader, not a brahmin.
“Bất cứ ai trong loài người sống bằng nghề buôn bán, này Vāseṭṭha, hãy biết rằng, người ấy là thương nhân, không phải là Bà-la-môn.
Yo hi koci manussesu, Parapessena jīvati; Evaṁ vāseṭṭha jānāhi, Pessiko so na brāhmaṇo.
Yo hi koci manussesu,
Anyone among humans who lives off serving others: know them, Vāseṭṭha, as a servant, not a brahmin.
Anyone among humans
“Bất cứ ai trong loài người sống bằng nghề phục vụ người khác, này Vāseṭṭha, hãy biết rằng, người ấy là người phục vụ, không phải là Bà-la-môn.
“Bất cứ ai trong loài người sống bằng cách lấy của không cho, này Vāseṭṭha, hãy biết rằng, người này là kẻ trộm, không phải là Bà-la-môn.
Yo hi koci manussesu, Issatthaṁ upajīvati; Evaṁ vāseṭṭha jānāhi, Yodhājīvo na brāhmaṇo.
Anyone among humans who lives off archery: know them, Vāseṭṭha, as a warrior, not a brahmin.
“Bất cứ ai trong loài người sống bằng nghề cung tên, này Vāseṭṭha, hãy biết rằng, người ấy là người lính, không phải là Bà-la-môn.
Yo hi koci manussesu, Porohiccena jīvati; Evaṁ vāseṭṭha jānāhi, Yājako eso na brāhmaṇo.
Anyone among humans who lives off priesthood: know them, Vāseṭṭha, as a sacrificer, not a brahmin.
“Bất cứ ai trong loài người sống bằng nghề tế lễ, này Vāseṭṭha, hãy biết rằng, người này là người tế tự, không phải là Bà-la-môn.
Yo hi koci manussesu, Gāmaṁ raṭṭhañca bhuñjati; Evaṁ vāseṭṭha jānāhi, Rājā eso na brāhmaṇo.
Anyone among humans who taxes village and nation, know them, Vāseṭṭha, as a ruler, not a brahmin.
“Bất cứ ai trong loài người hưởng dụng làng mạc và quốc độ, này Vāseṭṭha, hãy biết rằng, người này là vua, không phải là Bà-la-môn.
Na cāhaṁ brāhmaṇaṁ brūmi, Yonijaṁ mattisambhavaṁ; Bhovādi nāma so hoti, Sace hoti sakiñcano; Akiñcanaṁ anādānaṁ, Tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
I don’t call someone a brahmin after the mother’s womb they’re born from. If they still have attachments, they’re just someone who says ‘worthy’. Having nothing, taking nothing: that’s who I declare a brahmin.
“Ta không gọi là Bà-la-môn người sinh từ lòng mẹ, xuất thân từ dòng dõi (Bà-la-môn). Người ấy chỉ được gọi là ‘ngài’ nếu còn có chướng ngại. Người không còn chướng ngại, không còn chấp thủ, người ấy Ta gọi là Bà-la-môn.
Sabbasaṁyojanaṁ chetvā, Yo ve na paritassati; Saṅgātigaṁ visaṁyuttaṁ, Tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Having cut off all fetters they have no anxiety; they’ve slipped their chains and are detached: that’s who I declare a brahmin.
“Người đã cắt đứt mọi kiết sử, thật vậy, không còn run sợ; người đã vượt qua mọi ràng buộc, đã giải thoát, người ấy Ta gọi là Bà-la-môn.
Chetvā naddhiṁ varattañca, Sandānaṁ sahanukkamaṁ; Ukkhittapalighaṁ buddhaṁ, Tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
They’ve cut the strap and harness, the halter and bridle too; with cross-bar lifted, they’re awakened: that’s who I declare a brahmin.
“Người đã cắt đứt dây da (sân) và dây cương (tham), cùng với dây xích (tà kiến) và các tùy miên; người đã nhổ lên thanh chắn (vô minh), đã giác ngộ, người ấy Ta gọi là Bà-la-môn.
Akkosaṁ vadhabandhañca, Aduṭṭho yo titikkhati; Khantībalaṁ balānīkaṁ, Tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Abuse, killing, caging: they endure these without anger. Patience is their powerful army: that’s who I declare a brahmin.
“Người không sân hận, chịu đựng được sự mắng nhiếc, đánh đập và trói buộc; người có sức mạnh nhẫn nại, có đạo quân là sự nhẫn nại, người ấy Ta gọi là Bà-la-môn.
Akkodhanaṁ vatavantaṁ, Sīlavantaṁ anussadaṁ; Dantaṁ antimasārīraṁ, Tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Not irritable or pretentious, dutiful in precepts and observances, tamed, bearing their final body: that’s who I declare a brahmin.
“Người không sân giận, giữ gìn các hạnh, có giới đức, không còn tham ái, đã được điều phục, mang thân cuối cùng, người ấy Ta gọi là Bà-la-môn.
Vāri pokkharapatteva, Āraggeriva sāsapo; Yo na limpati kāmesu, Tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Like water from a lotus leaf, like a mustard seed off the point of a pin, sensual pleasures slip off them: that’s who I declare a brahmin.
“Như nước trên lá sen, như hạt cải trên đầu mũi kim, người không dính mắc vào các dục, người ấy Ta gọi là Bà-la-môn.
Yo dukkhassa pajānāti, Idheva khayamattano; Pannabhāraṁ visaṁyuttaṁ, Tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
They understand for themselves the end of suffering in this life; with burden put down, detached: that’s who I declare a brahmin.
“Người ngay tại đây biết rõ sự đoạn tận khổ đau của mình, đã đặt gánh nặng xuống, đã giải thoát, người ấy Ta gọi là Bà-la-môn.
Gambhīrapaññaṁ medhāviṁ, Maggāmaggassa kovidaṁ; Uttamatthamanuppattaṁ, Tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Deep in wisdom, intelligent, expert in the path and what is not the path; arrived at the highest goal: that’s who I declare a brahmin.
“Người có trí tuệ sâu sắc, bậc hiền trí, thông thạo đường và không phải đường, đã đạt đến mục đích tối thượng, người ấy Ta gọi là Bà-la-môn.
Asaṁsaṭṭhaṁ gahaṭṭhehi, Anāgārehi cūbhayaṁ; Anokasārimappicchaṁ, Tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Mixing with neither householders nor the homeless; a migrant with no bastion, few in wishes: that’s who I declare a brahmin.
“Người không giao du với cả tại gia và xuất gia, sống không nhà cửa, ít ham muốn, người ấy Ta gọi là Bà-la-môn.
Nidhāya daṇḍaṁ bhūtesu, Tasesu thāvaresu ca; Yo na hanti na ghāteti, Tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
They’ve laid aside violence against creatures firm and frail; not killing or making others kill: that’s who I declare a brahmin.
“Người đã từ bỏ trừng phạt đối với các chúng sinh, dù là chúng sinh run sợ hay vững vàng; người không giết hại, không sai khiến giết hại, người ấy Ta gọi là Bà-la-môn.
Aviruddhaṁ viruddhesu, Attadaṇḍesu nibbutaṁ; Sādānesu anādānaṁ, Tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Not fighting among those who fight, quenched among those who have taken up arms, not grasping among those who grasp: that’s who I declare a brahmin.
“Người không chống đối giữa những người chống đối, người ôn hòa giữa những người dùng hình phạt, người không chấp thủ giữa những người còn chấp thủ, người ấy Ta gọi là Bà-la-môn.
Yassa rāgo ca doso ca, Māno makkho ca pātito; Sāsaporiva āraggā, Tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
They’ve discarded greed and hate, along with conceit and contempt, like a mustard seed off the point of a pin: that’s who I declare a brahmin.
“Người nào đã làm rơi rụng tham ái, sân hận, kiêu mạn, và phỉ báng, giống như hạt cải rơi khỏi đầu mũi dùi, Ta gọi người ấy là vị Bà-la-môn.”
Akakkasaṁ viññāpaniṁ, Giraṁ saccamudīraye; Yāya nābhisaje kañci, Tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
The words they utter are polished, informative, and true, and don’t offend anyone: that’s who I declare a brahmin.
“Người nào nói lên lời nói chân thật, không thô lỗ, có thể làm cho liễu tri, lời nói mà không làm tổn thương bất cứ ai, Ta gọi người ấy là vị Bà-la-môn.”
Yodha dīghaṁ va rassaṁ vā, Aṇuṁ thūlaṁ subhāsubhaṁ; Loke adinnaṁ nādiyati, Tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
They don’t steal anything in the world, long or short, tiny or huge, beautiful or ugly: that’s who I declare a brahmin.
“Người nào ở đời này không lấy vật không được cho, dù dài hay ngắn, nhỏ hay to, tốt hay xấu, Ta gọi người ấy là vị Bà-la-môn.”
Āsā yassa na vijjanti, Asmiṁ loke paramhi ca; Nirāsāsaṁ visaṁyuttaṁ, Tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
They have no hope for this world or the next; with no need for hope, detached: that’s who I declare a brahmin.
“Người nào không có các ái dục ở đời này và ở đời sau, người không còn ái dục, đã được giải thoát, Ta gọi người ấy là vị Bà-la-môn.”
Yassālayā na vijjanti, Aññāya akathaṅkathī; Amatogadhamanuppattaṁ, Tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
They have no clinging, knowledge has freed them of indecision, they’ve arrived at the objective, freedom from death: that’s who I declare a brahmin.
“Người nào không có các ái luyến, sau khi đã biết rõ, không còn hoài nghi, đã đạt đến và nhập vào cõi bất tử, Ta gọi người ấy là vị Bà-la-môn.”
Yodha puññañca pāpañca, Ubho saṅgamupaccagā; Asokaṁ virajaṁ suddhaṁ, Tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
They’ve escaped clinging to both good and bad deeds; sorrowless, stainless, pure: that’s who I declare a brahmin.
“Người nào ở đây đã vượt qua cả phước và tội, cả hai sự dính mắc, người không sầu muộn, không nhiễm ô, thanh tịnh, Ta gọi người ấy là vị Bà-la-môn.”
Candaṁva vimalaṁ suddhaṁ, Vippasannamanāvilaṁ; Nandībhavaparikkhīṇaṁ, Tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Pure as the spotless moon, clear and unclouded, they’ve ended relish for rebirth: that’s who I declare a brahmin.
“Người trong sạch, thanh tịnh, trong sáng, không vẩn đục như mặt trăng, người đã đoạn tận hỷ lạc trong các cõi hữu, Ta gọi người ấy là vị Bà-la-môn.”
Yomaṁ palipathaṁ duggaṁ, Saṁsāraṁ mohamaccagā; Tiṇṇo pāraṅgato jhāyī, Anejo akathaṅkathī; Anupādāya nibbuto, Tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
They’ve got past this grueling swamp of delusion, transmigration. Meditating in stillness, free of indecision, they have crossed over to the far shore. They’re quenched by not grasping: that’s who I declare a brahmin.
“Người nào đã vượt qua con đường lầy lội, con đường khó đi, luân hồi, và vô minh này; đã vượt qua, đã đến bờ kia, là bậc thiền định, không dao động, không hoài nghi, không còn chấp thủ, đã tịch tịnh, Ta gọi người ấy là vị Bà-la-môn.”
Yodha kāme pahantvāna, Anāgāro paribbaje; Kāmabhavaparikkhīṇaṁ, Tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
They’ve given up sensual pleasures, and have gone forth from lay life; they’ve ended rebirth in the sensual realm: that’s who I declare a brahmin.
“Người nào ở đây, sau khi từ bỏ các dục, sống không nhà, đi du hành; người đã đoạn tận dục hữu, Ta gọi người ấy là vị Bà-la-môn.”
Yodha taṇhaṁ pahantvāna, Anāgāro paribbaje; Taṇhābhavaparikkhīṇaṁ, Tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
They’ve given up craving, and have gone forth from lay life; they’ve ended craving to be reborn: that’s who I declare a brahmin.
“Người nào ở đây, sau khi từ bỏ ái, sống không nhà, đi du hành; người đã đoạn tận ái và hữu, Ta gọi người ấy là vị Bà-la-môn.”
Hitvā mānusakaṁ yogaṁ, Dibbaṁ yogaṁ upaccagā; Sabbayogavisaṁyuttaṁ, Tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
They’ve thrown off the human yoke, and slipped out of the heavenly yoke; unyoked from all yokes: that’s who I declare a brahmin.
“Người nào đã từ bỏ ách trói của cõi người, đã vượt qua ách trói của cõi trời, người đã giải thoát khỏi mọi ách trói, Ta gọi người ấy là vị Bà-la-môn.”
Hitvā ratiñca aratiṁ, Sītibhūtaṁ nirūpadhiṁ; Sabbalokābhibhuṁ vīraṁ, Tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Giving up desire and discontent, they’re cooled and free of attachments; a hero, master of the whole world: that’s who I declare a brahmin.
“Người nào đã từ bỏ sự ưa thích và sự không ưa thích, đã trở nên mát mẻ, không còn sanh y, bậc anh hùng chinh phục tất cả thế gian, Ta gọi người ấy là vị Bà-la-môn.”
Cutiṁ yo vedi sattānaṁ, Upapattiñca sabbaso; Asattaṁ sugataṁ buddhaṁ, Tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
They know the passing away and rebirth of all beings; unattached, holy, awakened: that’s who I declare a brahmin.
“Người nào biết một cách toàn diện sự chết và sự tái sanh của chúng sanh, người không dính mắc, bậc Thiện Thệ, bậc Giác Ngộ, Ta gọi người ấy là vị Bà-la-môn.”
Yassa gatiṁ na jānanti, Devā gandhabbamānusā; Khīṇāsavaṁ arahantaṁ, Tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Gods, centaurs, and humans don’t know their destiny; the perfected ones with defilements ended: that’s who I declare a brahmin.
“Người nào mà cảnh giới đi đến không được biết bởi chư Thiên, Càn-thát-bà, và loài người; người đã đoạn tận các lậu hoặc, bậc A-la-hán, Ta gọi người ấy là vị Bà-la-môn.”
Yassa pure ca pacchā ca, Majjhe ca natthi kiñcanaṁ; Akiñcanaṁ anādānaṁ, Tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
They have nothing before or after, or even in between. Having nothing, taking nothing: that’s who I declare a brahmin.
“Người nào không có gì chướng ngại ở quá khứ, tương lai, và hiện tại; người không có gì chướng ngại, không còn chấp thủ, Ta gọi người ấy là vị Bà-la-môn.”
Usabhaṁ pavaraṁ vīraṁ, Mahesiṁ vijitāvinaṁ; Anejaṁ nhātakaṁ buddhaṁ, Tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
Captain of the herd, excellent hero, great seer and victor; unstirred, washed, awakened: that’s who I declare a brahmin.
“Bậc Ngưu vương, bậc cao thượng, bậc anh hùng, bậc Đại sĩ, bậc chiến thắng, người không dao động, đã gột rửa phiền não, bậc Giác Ngộ, Ta gọi người ấy là vị Bà-la-môn.”
Pubbenivāsaṁ yo vedi, Saggāpāyañca passati; Atho jātikkhayaṁ patto, Tamahaṁ brūmi brāhmaṇaṁ.
They who know their past lives, see heaven and places of loss, and have attained the ending of rebirth, that’s who I declare a brahmin.
“Người nào biết được các kiếp sống quá khứ, thấy được thiên giới và đọa xứ, và hơn nữa đã đạt đến sự đoạn tận sanh, Ta gọi người ấy là vị Bà-la-môn.”
Samaññā hesā lokasmiṁ, Nāmagottaṁ pakappitaṁ; Sammuccā samudāgataṁ, Tattha tattha pakappitaṁ.
For name and clan are formulated as mere convention in the world. Produced by mutual agreement, they’re formulated in each case.
“Ở trong đời, tên và họ được đặt ra chỉ là tên gọi. Nó phát sanh do quy ước, được đặt ra ở nơi này nơi kia.”
Dīgharattamanusayitaṁ, Diṭṭhigatamajānataṁ; Ajānantā no pabruvanti, Jātiyā hoti brāhmaṇo.
For a long time this misconception has prejudiced those who don’t understand. Ignorant, they declare that one is a brahmin by birth.
“Tà kiến đã ngủ ngầm trong một thời gian dài nơi những người không biết. Những người không biết nói rằng: ‘Là Bà-la-môn do sanh’.”
Na jaccā brāhmaṇo hoti, Na jaccā hoti abrāhmaṇo; Kammunā brāhmaṇo hoti, Kammunā hoti abrāhmaṇo.
You’re not a brahmin by birth, nor by birth a non-brahmin. You’re a brahmin by your deeds, and by deeds a non-brahmin.
“Không phải là Bà-la-môn do sanh, cũng không phải là không phải Bà-la-môn do sanh. Là Bà-la-môn do hành động, là không phải Bà-la-môn do hành động.”
Kassako kammunā hoti, Sippiko hoti kammunā; Vāṇijo kammunā hoti, Pessiko hoti kammunā.
You’re a farmer by your deeds, by deeds you’re a professional; you’re a trader by your deeds, by deeds are you a servant;
“Do hành động mà là nông dân, do hành động mà là thợ thủ công. Do hành động mà là thương gia, do hành động mà là người phục vụ.”
Coropi kammunā hoti, Yodhājīvopi kammunā; Yājako kammunā hoti, Rājāpi hoti kammunā.
you’re a bandit by your deeds, by deeds you’re a warrior; you’re a sacrificer by your deeds, by deeds you’re a ruler.
“Do hành động mà cũng là kẻ trộm, do hành động mà cũng là người lính. Do hành động mà là người tế tự, do hành động mà cũng là vua.”
Evametaṁ yathābhūtaṁ, Kammaṁ passanti paṇḍitā; Paṭiccasamuppādadassā, Kammavipākakovidā.
In this way the astute regard deeds in accord with truth. Seeing dependent origination, they’re expert in deeds and their results.
“Bậc trí, những người thấy được lý duyên khởi, những người thông thạo về quả của nghiệp, thấy nghiệp này đúng như thật như vậy.”
Kammunā vattati loko, Kammunā vattati pajā; Kammanibandhanā sattā, Rathassāṇīva yāyato.
Deeds make the world go on, deeds make people go on; sentient beings are bound by deeds, like a moving chariot’s linchpin.
“Thế gian vận hành do nghiệp, chúng sanh vận hành do nghiệp. Chúng sanh bị trói buộc bởi nghiệp, giống như cái chốt của cỗ xe đang chạy.”
Tapena brahmacariyena, Saṁyamena damena ca; Etena brāhmaṇo hoti, Etaṁ brāhmaṇamuttamaṁ.
By fervor and spiritual practice, by restraint and by self-control: that’s how to become a brahmin, this is the supreme brahmin.
“Do khổ hạnh, do phạm hạnh, do sự tự chế, và do sự điều phục; do điều này mà trở thành Bà-la-môn, đây là sự Bà-la-môn tối thượng.”
Tīhi vijjāhi sampanno, santo khīṇapunabbhavo; Evaṁ vāseṭṭha jānāhi, brahmā sakko vijānatan”ti.
Accomplished in the three knowledges, peaceful, with rebirth ended, know them, Vāseṭṭha, as the Divinity and Sakka to the wise.”
“Người đầy đủ ba minh, tịch tịnh, đã đoạn tận tái sanh. Này Vāseṭṭha, hãy biết như vậy: đối với người có trí, người ấy là Phạm thiên, là Đế Thích.”
Evaṁ vutte, vāseṭṭhabhāradvājā māṇavā bhagavantaṁ etadavocuṁ: “abhikkantaṁ, bho gotama …pe… upāsake no bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupete saraṇaṁ gate”ti.
When he had spoken, Vāseṭṭha and Bhāradvāja said to him, “Excellent, worthy Gotama! Excellent! … From this day forth, may the worthy Gotama remember us as lay followers who have gone for refuge for life.”
Khi được nói như vậy, hai thanh niên Vāseṭṭha và Bhāradvāja đã bạch với Đức Thế Tôn rằng: – “Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama… (lược)… Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Gotama hãy ghi nhận chúng con là những người cận sự nam đã quy y cho đến trọn đời.”
Vāseṭṭhasuttaṁ navamaṁ.
Kinh Vāseṭṭha, thứ chín, đã kết thúc.