- Sutta Nipāta 3.1
Bản dịch
SNP 3.1 — Kinh Xuất Gia
Pabbajjāsutta
Tôi sẽ thuật lại việc xuất gia: Bậc Hữu Nhãn đã xuất gia ra sao, trong khi suy xét thế nào mà Ngài đã tỏ ra thích thú việc xuất gia. Lời của Ngài Ānanda (SnA. 2, 381).
Ngài đã xuất gia sau khi nhìn thấy rằng: ‘Cuộc sống tại gia này có sự chướng ngại, là địa bàn của ô nhiễm; việc xuất gia quả là bầu trời mở rộng.’
Sau khi xuất gia, Ngài đã lánh xa nghiệp ác do thân. Sau khi từ bỏ uế hạnh về khẩu, Ngài đã làm trong sạch việc nuôi mạng.
Đức Phật đã đi đến thành Rājagaha, vùng đất ở giữa các ngọn núi của xứ Magadha. Ngài đã dấn thân vào việc khất thực, với tướng mạo cao quý nổi bật.
Đứng ở tòa lâu đài, đức vua Bimbisāra đã nhìn thấy Ngài. Sau khi nhìn thấy bậc có đầy đủ tướng mạo, đức vua đã nói lên ý nghĩa này:
‘Này các khanh, hãy nhìn xem người này, vị có vóc dáng đẹp, cao cả, (làn da) trong sáng, và còn thành tựu về cử chỉ nữa; và vị này nhìn chỉ trong tầm của một cán cày.
Với mắt nhìn xuống, có niệm, vị này dường như không thuộc gia tộc hạ liệt. Hãy cho các sứ giả của vua chạy đến (hỏi xem) vị tỳ khưu (ấy) sẽ đi đến nơi nào?'
Được phái đi, các sứ giả ấy của vua đã đi theo sát ở phía sau (nghĩ rằng): ‘Vị tỳ khưu sẽ đi đến nơi nào? Chỗ trú ngụ sẽ là nơi đâu?’
Trong khi bước đi (khất thực) tuần tự theo từng nhà, vị ấy có các căn đã được canh phòng, khéo thu thúc ở các giác quan, đã nhận đầy bình bát một cách nhanh chóng, có sự nhận biết rõ, có niệm.
Sau khi đi khất thực, vị hiền trí đã rời khỏi thành phố rồi đã leo lên núi Paṇḍava (nghĩ rằng): ‘Nơi này sẽ là chỗ trú ngụ.’
Sau khi nhìn thấy vị ấy đi đến gần chỗ trú ngụ, do đó các sứ giả đã dừng lại. Và chỉ một vị sứ giả đã trở về thông báo cho đức vua rằng:
‘Tâu đại vương, vị tỳ khưu ấy ngồi tựa như con hổ hay con bò mộng ở phía trước núi Paṇḍava, tựa như con sư tử ở trong hang núi.’
Sau khi đã nghe lời nói của viên sứ giả, vị Sát-đế-lỵ với dáng vẻ vội vã đã ra đi về phía núi Paṇḍava bằng cỗ xe xinh đẹp.
Sau khi đã đi hết vùng đất có thể đi bằng cỗ xe, đức vua ấy đã leo xuống cỗ xe rồi đã đi bộ đến gần, sau khi đến nơi đã ngồi kế cận vị tỳ khưu ấy.
Sau khi ngồi xuống, đức vua đã nói lời xã giao thân thiện. Kế đó, sau khi trao đổi lời chào hỏi, đức vua ấy đã nói ý nghĩa này:
‘Ngươi là thanh niên và trẻ trung, vừa mới lớn, còn non trẻ, đươc thành tựu màu da và dáng vóc, có dòng dõi tựa như là Sát đế-lỵ.
Dẫn đầu đoàn voi trận, ngươi làm rạng rỡ đội binh tiên phong. Trẫm ban cho các của cải, ngươi hãy hưởng thụ. Đã được hỏi, ngươi hãy nói về dòng dõi.’
‘Tâu đức vua, thẳng ngay hướng này có một chủng tộc (sống) ở sườn núi Hi-mã-lạp, có đầy đủ tài sản và nghị lực, thuộc dân bản địa của xứ sở Kosala.
Với dòng họ có tên là Mặt Trời, với dòng dõi có tên là Sākiya (Thích Ca), tâu đức vua, trong khi không mong mỏi các dục, từ gia tộc ấy tôi đã xuất gia.
Sau khi nhìn thấy sự tai hại ở các dục, sau khi nhìn thấy sự xuất ly là an toàn, tôi sẽ ra đi nhằm (mục đích) ra sức nỗ lực, trong việc này tâm ý của tôi được vui thích.’
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Kinh Tập (Suttanipāta). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Anthology of Discourses 3.1
Going Forth
1. Kinh Xuất Gia
“Pabbajjaṁ kittayissāmi, yathā pabbaji cakkhumā; Yathā vīmaṁsamāno so, pabbajjaṁ samarocayi.
“I shall extol going forth with the example of the Clear-eyed One, the course of inquiry that led to his choice to go forth.
Ta sẽ kể về sự xuất gia, cách mà bậc Hữu Nhãn đã xuất gia; và cách mà ngài, trong khi suy xét, đã tìm thấy sự ưa thích trong đời sống xuất gia.
Sambādhoyaṁ gharāvāso, rajassāyatanaṁ iti; Abbhokāsova pabbajjā, iti disvāna pabbaji.
‘This life at home is cramped, a realm of dirt.’ ‘The life of one gone forth is like an open space.’ Seeing this, he went forth.
Đời sống tại gia này thật chật hẹp, là nơi phát sanh của bụi bặm. Sự xuất gia giống như khoảng không rộng mở. Thấy như vậy, ngài đã xuất gia.
Pabbajitvāna kāyena, pāpakammaṁ vivajjayi; Vacīduccaritaṁ hitvā, ājīvaṁ parisodhayi.
Having gone forth, he shunned bad deeds of body. And leaving verbal misconduct behind, he purified his livelihood.
Sau khi xuất gia, ngài đã tránh xa việc ác bằng thân; từ bỏ lời nói ác, ngài đã thanh lọc sinh kế của mình.
Agamā rājagahaṁ buddho, magadhānaṁ giribbajaṁ; Piṇḍāya abhihāresi, ākiṇṇavaralakkhaṇo”.
The Buddha went to Rājagaha, the Mountainfold of the Magadhans. He betook himself for alms, replete with excellent marks.
Đức Phật đã đến Rājagaha, thành trì của người Māgadha được núi non bao bọc. Với những tướng tốt tuyệt hảo, ngài đã đi vào để khất thực.
Tamaddasā bimbisāro, pāsādasmiṁ patiṭṭhito; Disvā lakkhaṇasampannaṁ, imamatthaṁ abhāsatha.
Bimbisāra saw him while standing atop his longhouse. Noticing that he was endowed with marks, he said the following:
Vua Bimbisāra, đang đứng trên lầu đài, đã nhìn thấy ngài. Thấy ngài đầy đủ các tướng tốt, vua đã nói lên lời này.
“Imaṁ bhonto nisāmetha, abhirūpo brahā suci; Caraṇena ca sampanno, yugamattañca pekkhati.
‘Pay heed, sirs, to this one, handsome, majestic, radiant; accomplished in deportment, he looks just a plough’s length in front.
Này các khanh, hãy nhìn xem vị này: dung sắc đẹp đẽ, cao lớn, trong sạch, dáng đi cũng hoàn hảo, và chỉ nhìn trong khoảng một ách cày.
Okkhittacakkhu satimā, nāyaṁ nīcakulāmiva; Rājadūtābhidhāvantu, kuhiṁ bhikkhu gamissati”.
Eyes downcast, mindful, unlike one from a low family. Let the king’s messengers run out, and find where the mendicant will go.’
Mắt nhìn xuống, có chánh niệm, vị này không giống người từ dòng dõi thấp kém. Các sứ giả của vua hãy đi theo mau, xem vị Tỳ khưu này sẽ đi đâu.
Te pesitā rājadūtā, piṭṭhito anubandhisuṁ; Kuhiṁ gamissati bhikkhu, kattha vāso bhavissati.
The messengers sent out followed right behind, thinking ‘Where will the mendicant go? Where shall he find a place to stay?’
Các sứ giả của vua được phái đi đã theo sát phía sau (tự hỏi): 'Vị Tỳ khưu này sẽ đi đâu? Chỗ ở của ngài sẽ là nơi nào?'
Sapadānaṁ caramāno, guttadvāro susaṁvuto; Khippaṁ pattaṁ apūresi, sampajāno paṭissato.
Wandering indiscriminately for alms, sense doors guarded and well restrained, aware and mindful, his bowl was quickly filled.
Đi khất thực tuần tự từng nhà, hộ trì các căn, khéo thu thúc, tỉnh giác và chánh niệm, ngài đã nhanh chóng làm đầy bát của mình.
Piṇḍacāraṁ caritvāna, Nikkhamma nagarā muni; Paṇḍavaṁ abhihāresi, Ettha vāso bhavissati.
Having wandered for alms, the sage left the city. He betook himself to Mount Paṇḍava, thinking, ‘Here is the place I shall stay.’
Sau khi đi khất thực, bậc ẩn sĩ rời khỏi thành phố, đi về hướng núi Paṇḍava, (nghĩ rằng): 'Chỗ ở của ta sẽ là nơi đây'.
Disvāna vāsūpagataṁ, Tayo dūtā upāvisuṁ; Tesu ekova āgantvā, Rājino paṭivedayi.
Seeing that he had arrived at a place to stay, the messengers withdrew nearby, but one of them returned to inform the king.
Thấy ngài đã đến nơi ở, ba vị sứ giả đã đến gần. Trong số họ, chỉ một người quay trở về và tâu lại với vua.
“Esa bhikkhu mahārāja, Paṇḍavassa puratthato; Nisinno byagghusabhova, Sīhova girigabbhare”.
‘Great king, the mendicant is on the east flank of Mount Paṇḍava. There he sits, like a tiger or a bull, like a lion in a mountain cave.’
Tâu Đại vương, vị Tỳ khưu ấy đang ngồi ở sườn đông núi Paṇḍava, trong một hang núi, oai nghiêm như cọp chúa, như sư tử.
Sutvāna dūtavacanaṁ, Bhaddayānena khattiyo; Taramānarūpo niyyāsi, Yena paṇḍavapabbato.
Hearing the messenger’s report, the aristocrat set out hurriedly in his fine chariot toward Mount Paṇḍava.
Nghe lời của sứ giả, vị vua dòng Sát-đế-lỵ vội vã khởi hành trên một cỗ xe tốt, đi đến nơi có núi Paṇḍava.
Sa yānabhūmiṁ yāyitvā, Yānā oruyha khattiyo; Pattiko upasaṅkamma, Āsajja naṁ upāvisi.
He went as far as vehicles could go, then dismounted from his chariot, approached on foot, and reaching him, drew near.
Vị vua dòng Sát-đế-lỵ đi xe đến nơi xe có thể đi, rồi xuống xe, đi bộ đến gần, tiếp cận và ngồi xuống bên cạnh ngài.
Nisajja rājā sammodi, Kathaṁ sāraṇīyaṁ tato; Kathaṁ so vītisāretvā, Imamatthaṁ abhāsatha.
Seated, the king greeted him and made polite conversation. When the courtesies were over, he said the following:
Sau khi ngồi xuống, nhà vua đã trao đổi những lời chào hỏi thân mật. Sau khi kết thúc cuộc trò chuyện đáng ghi nhớ ấy, vua đã nói lên lời này.
“Yuvā ca daharo cāsi, Paṭhamuppattiko susu; Vaṇṇārohena sampanno, Jātimā viya khattiyo.
‘You are young, just a youth, a lad in the prime of life. You are endowed with beauty and stature, like an aristocrat of good birth
Ngài còn trẻ, còn trai tráng, đang trong tuổi thanh xuân đầu tiên, rất trẻ trung. Với dung sắc và vóc dáng hoàn hảo, ngài trông như một vị vua dòng Sát-đế-lỵ cao quý.
Sobhayanto anīkaggaṁ, Nāgasaṅghapurakkhato; Dadāmi bhoge bhuñjassu, Jātiṁ akkhāhi pucchito”.
in glory at the army’s head, surrounded by a troop of elephants. I offer you pleasures—enjoy them! But please tell me of your birth.’
Làm rạng rỡ đội quân tinh nhuệ, được đoàn voi chiến hộ tống, tôi xin dâng tặng ngài của cải, xin hãy hưởng thụ. Khi được hỏi, xin ngài hãy cho biết dòng dõi của mình.
“Ujuṁ janapado rāja, Himavantassa passato; Dhanaviriyena sampanno, Kosalesu niketino.
‘Up north, O King, on the slopes of the Himalayas, full of wealth and strength, lies the land of one whose abode is among the Kosalans.
Tâu Đại vương, có một xứ sở ngay thẳng ở sườn núi Himavanta, giàu có và hùng mạnh, thuộc về những người Kosala.
Ādiccā nāma gottena, Sākiyā nāma jātiyā; Tamhā kulā pabbajitomhi, Na kāme abhipatthayaṁ.
Their clan is named for the Sun, they are Sakyans by birth. I have gone forth from that family—I do not yearn for sensual pleasure.
Về thị tộc, tôi thuộc dòng Ādicca (dòng dõi mặt trời), về dòng dõi, tôi là người Sākiyā. Tôi đã xuất gia từ dòng dõi ấy, không còn khao khát các dục lạc.
Kāmesvādīnavaṁ disvā, Nekkhammaṁ daṭṭhu khemato; Padhānāya gamissāmi, Ettha me rañjatī mano”ti.
Seeing the danger in sensual pleasures, seeing renunciation as sanctuary, I shall go on to strive; that is where my mind delights.’”
Thấy sự nguy hại trong các dục lạc, và thấy sự từ bỏ là an ổn, tôi sẽ đi để tinh tấn. Tâm tôi hoan hỷ trong việc này.
Pabbajjāsuttaṁ paṭhamaṁ.
Kinh Xuất Gia, phẩm thứ nhất, kết thúc.