- Sutta Nipāta 3.2
Bản dịch
SNP 3.2 — Kinh Nỗ Lực
Padhānasutta
Trong lúc ta đây, với bản tánh cương quyết về việc nỗ lực, đang gắng hết sức tham thiền cạnh dòng sông Nerañjarā nhằm đạt đến sự an toàn đối với các trói buộc (Niết Bàn). Lời thuật lại của đức Phật về thời kỳ thực hành khổ hạnh (SnA. ii, 386).
Namuci đã đi đến gần, thốt lên lời nói thương xót rằng: ‘Ông trở nên ốm o, xuống sắc; cái chết là ở cạnh ông rồi.’ Namuci: Ma Vương, sở dĩ được gọi như vậy vì không ai thoát khỏi (na muñcati) quyền cai quản của người này (sđd.).
Đối với ông, có đến một ngàn phần chết, chỉ còn một phần sống. Này ông, hãy sống đi, mạng sống là tốt hơn. Trong khi sống, ông sẽ làm các việc phước đức.
Nhiều phước báu (sẽ) được tích lũy cho ông ngay trong khi ông thực hành Phạm hạnh,và dâng cúng vật tế thần lửa, ông sẽ làm gì với việc nỗ lực?
Con đường đưa đến sự nỗ lực là khó đi, khó làm, khó hoàn thành,’ trong khi nói những lời kệ này Ma Vương đã đứng gần đức Phật.
Khi Ác ma có lời nói như thế, đức Thế Tôn đã nói với Ác Ma ấy điều này: ‘Này kẻ thân quyến của xao lãng, này Ác Ma, ngươi đến đây với mục dích gì?
Ta không có mục đích về phước báu dầu chỉ là một phần nhỏ nhoi, Ma Vương nên nói với những người nào có mục đích về các việc phước báu.
Ta có đức tin cũng như tinh tấn, và trí tuệ được tìm thấy ở ta, ta còn là người có bản tánh cương quyết như vậy, sao ngươi còn hỏi ‘hãy sống’ đối với ta?
Gió này có thể làm khô cạn các dòng nước thậm chí của các con sông, nhưng sao máu của người có bản tánh cương quyết như ta không bị làm khô kiệt?
Trong khi máu bị khô cạn, mật và đàm bị khô cạn, trong khi các phần xác thịt bị hủy hoại, thì tâm (của ta) càng thêm tịnh tín; niệm, tuệ, và định của ta càng thêm vững chải.
Trong khi sống như vậy ta đây đã đạt đến cảm thọ (khổ) cùng tột, tâm của ta (vẫn) không mong cầu các dục. Ngươi hãy nhìn xem trạng thái trong sạch của chúng sanh.
Các dục là đạo binh thứ nhất của ngươi, thứ nhì gọi là sự không hứng thú, thứ ba của ngươi là đói và khát, thứ tư gọi là tham ái.
Thứ năm của ngươi là dã dượi và buồn ngủ, thứ sáu gọi là sợ sệt, thứ bảy của ngươi là hoài nghi, thứ tám của ngươi là gièm pha, bướng bỉnh.
Lợi lộc, danh tiếng, tôn vinh, và danh vọng nào đã đạt được sai trái, kẻ nào đề cao bản thân và khi dễ những người khác, ...
... Này Namuci, chúng là đạo binh của ngươi, là toán xung kích của Kaṇha. Kẻ khiếp nhược không chiến thắng nó, còn (người nào) sau khi chiến thắng thì đạt được sự an lạc.
Ta đây có nên gắn lên cọng cỏ muñja? Thật xấu hổ thay mạng sống của ta! Đối với ta, việc chết ở chiến trường là tốt hơn việc có thể sống còn mà bị thua trận. Chiến sĩ ở trận tiền gắn cọng cỏ muñja ở đầu, ở cờ hiệu, hoặc ở vũ khí để khẳng định việc không đầu hàng (SnA. ii, 390).
Bị chìm đắm ở đây, một số Sa-môn và Bà-la-môn không được tỏa sáng và họ không biết được đạo lộ mà những vị có sự hành trì tốt đẹp đã đi qua. Những vị có sự hành trì tốt đẹp (subbatā) là chư Phật Toàn Giác và Độc Giác (Sđd. 391).
Sau khi nhìn thấy Ma Vương cùng với đạo quân binh có cờ hiệu dàn trận ở xung quanh, ta tiến ra đối đầu ở chiến trường. Chớ để Ma Vương loại ta rời khỏi vị trí.
Thế gian luôn cả chư Thiên không chế ngự được đạo binh ấy của ngươi. Ta sẽ phá tan đạo binh ấy của ngươi bằng trí tuệ, tựa như đập vỡ cái bình bát chưa nung bằng viên đá.
Sau khi chế ngự được tầm (sự suy tư), và niệm đã khéo được thiết lập, trong khi huấn luyện các đệ tử đông đảo, ta sẽ du hành từ xứ sở này đến xứ sở khác.
Họ là những người hành theo lời chỉ dạy của ta, không xao lãng, có bản tánh cương quyết. Dầu ngươi không muốn, họ sẽ đi đến nơi mà họ không sầu muộn sau khi đi đến.
‘Suốt bảy năm, ta đã theo sát đức Thế Tôn từng bước chân một. Ta đã không tìm được khuyết điểm nào của đấng Chánh Đẳng Giác, bậc có niệm. Lời của Ma Vương (SnA. ii, 392).
Ví như con quạ lượn vòng vòng quanh hòn đá giống như miếng mỡ (nghĩ rằng): ‘Ở đây chúng ta cũng có thể kiếm được vật gì mềm mại, thậm chí là miếng ăn ngọt ngào?’
Không đạt được miếng ăn ngọt ngào ở nơi ấy, con quạ đã lìa bỏ nơi ấy. Tựa như con quạ với hòn đá, chúng ta đã đến với Gotama, đã chán nản và đã bỏ đi.’
Khi ấy, cây đàn vīṇā đã rơi xuống từ nách của kẻ bị sầu muộn tác động ấy. Sau đó, với tâm trí buồn bã, gã Dạ Xoa ấy đã biến mất ngay tại chỗ ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Kinh Tập (Suttanipāta). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Anthology of Discourses 3.2
Striving
2. Kinh Tinh Tấn
“Taṁ maṁ padhānapahitattaṁ, nadiṁ nerañjaraṁ pati; Viparakkamma jhāyantaṁ, yogakkhemassa pattiyā.
“During my time of resolute striving back on the bank of the Nerañjara River, I was meditating very hard for the sake of sanctuary from the yoke.
Đến ta, người có tâm hướng đến sự tinh tấn, đang nỗ lực thiền định bên bờ sông Nerañjarā để đạt được sự an ổn khỏi các ách縛.
Namucī karuṇaṁ vācaṁ, bhāsamāno upāgami; ‘Kiso tvamasi dubbaṇṇo, santike maraṇaṁ tava.
Namucī approached, speaking words of kindness: ‘You’re thin, discolored, on the verge of death.
Namucī (Māra) đã đến gần, nói những lời lẽ có vẻ bi mẫn: 'Ngài thật gầy gò, sắc diện không đẹp, cái chết đã cận kề bên ngài.'
Sahassabhāgo maraṇassa, ekaṁso tava jīvitaṁ; Jīva bho jīvitaṁ seyyo, jīvaṁ puññāni kāhasi.
Death has a thousand parts of you, one fraction is left to life. Live, worthy sir! Life is better! Living, you can make merits.
Một ngàn phần thuộc về cái chết, sự sống của ngài chỉ còn một phần. Này ông, hãy sống đi, sống thì tốt hơn. Khi còn sống, ngài sẽ làm được các công đức.
Carato ca te brahmacariyaṁ, Aggihuttañca jūhato; Pahūtaṁ cīyate puññaṁ, Kiṁ padhānena kāhasi.
While leading the spiritual life and serving the sacred flame, you can pile up abundant merit—so what will striving do for you?
Khi ngài thực hành phạm hạnh và cúng dường lửa, nhiều công đức sẽ được tích lũy. Ngài sẽ làm gì với sự tinh tấn này?
Duggo maggo padhānāya, dukkaro durabhisambhavo’”; Imā gāthā bhaṇaṁ māro, aṭṭhā buddhassa santike.
Hard to walk is the path of striving, hard to do, a hard challenge to win.’” These are the verses Māra spoke as he stood beside the Buddha.
Con đường tinh tấn thật khó đi, khó thực hành, khó đạt được.' Nói lên những câu kệ này, Māra đã đứng gần Đức Phật.
Taṁ tathāvādinaṁ māraṁ, bhagavā etadabravi; “Pamattabandhu pāpima, yenatthena idhāgato.
When Māra had spoken in this way, the Buddha said this: “O Wicked One, kinsman of the negligent, you’re here for your own purpose.
Với Māra, kẻ đã nói như vậy, Đức Thế Tôn đã đáp lời này: 'Hỡi Ác ma, bạn của sự dễ duôi, ngươi đến đây vì mục đích nào.'
Aṇumattopi puññena, Attho mayhaṁ na vijjati; Yesañca attho puññena, Te māro vattumarahati.
I have no need for the slightest bit of merit. Those with need for merit are fit for Māra to address.
Đối với ta, không có lợi ích dù chỉ một chút với công đức (thế gian). Những ai cần đến công đức, Māra nên nói với những người đó.
Atthi saddhā tathā viriyaṁ, paññā ca mama vijjati; Evaṁ maṁ pahitattampi, kiṁ jīvamanupucchasi.
I have faith and energy too, and wisdom is found in me. When I am so resolute, why do you beg me to live?
Ta có đức tin, cũng như tinh tấn, và trí tuệ cũng có. Với ta, người có tâm quyết chí như vậy, tại sao ngươi lại hỏi về sự sống?
Nadīnamapi sotāni, ayaṁ vāto visosaye; Kiñca me pahitattassa, lohitaṁ nupasussaye.
The rivers and streams might be dried by the wind, so why, when I am resolute, should it not dry up my blood?
Cơn gió (tinh tấn) này có thể làm khô cạn ngay cả dòng chảy của các con sông. Cớ sao máu của ta, người có tâm quyết chí, lại không thể khô cạn được?
Lohite sussamānamhi, Pittaṁ semhañca sussati; Maṁsesu khīyamānesu, Bhiyyo cittaṁ pasīdati; Bhiyyo sati ca paññā ca, Samādhi mama tiṭṭhati.
And while the blood is drying up, the bile and phlegm dry too. And as my muscles waste away, my mind grows more serene. And all the stronger grow mindfulness and wisdom and immersion.
Khi máu huyết khô cạn, mật và đàm cũng khô theo; Khi thịt da hao mòn, tâm càng thêm trong sáng; Chánh niệm, trí tuệ, và chánh định của ta càng thêm vững vàng.
Tassa mevaṁ viharato, Pattassuttamavedanaṁ; Kāmesu nāpekkhate cittaṁ, Passa sattassa suddhataṁ.
As I meditate like this, having attained the supreme feeling, my mind has no interest in sensual pleasures: behold a being’s purity!
Với ta, người sống như vậy, đã đạt đến cảm thọ tối thượng, tâm không còn trông mong các dục vọng. Hãy xem sự thanh tịnh của chúng sanh.
Kāmā te paṭhamā senā, Dutiyā arati vuccati; Tatiyā khuppipāsā te, Catutthī taṇhā pavuccati.
Sensual pleasures are your first army, the second is called discontent, hunger and thirst are the third, and the fourth is said to be craving.
Dục vọng là đạo quân thứ nhất của ngươi, bất mãn được gọi là đạo quân thứ hai; đói và khát là đạo quân thứ ba của ngươi, tham ái được gọi là đạo quân thứ tư.
Pañcamaṁ thinamiddhaṁ te, Chaṭṭhā bhīrū pavuccati; Sattamī vicikicchā te, Makkho thambho te aṭṭhamo.
Your fifth is dullness and drowsiness, the sixth is said to be cowardice, your seventh is doubt, contempt and obstinacy are your eighth.
Hôn trầm thụy miên là đạo quân thứ năm của ngươi, sợ hãi được gọi là đạo quân thứ sáu; hoài nghi là đạo quân thứ bảy của ngươi, giả dối và ngoan cố là đạo quân thứ tám của ngươi.
Lābho siloko sakkāro, Micchāladdho ca yo yaso; Yo cattānaṁ samukkaṁse, Pare ca avajānati.
Profit, praise, and honor, and misbegotten fame; the extolling of oneself while scorning others.
Lợi lộc, tiếng tăm, cung kính, và danh vọng có được một cách sai lầm; và kẻ nào tự tán dương mình và khinh miệt người khác.
Esā namuci te senā, Kaṇhassābhippahārinī; Na naṁ asūro jināti, Jetvā ca labhate sukhaṁ.
This is your army, Namucī, the strike force of the Dark One. Only a hero can defeat it, but in victory there lies bliss.
Này Namuci, đó là đạo quân của ngươi, đạo quân tấn công của Kẻ Hắc Ám. Người không phải anh hùng không thể chiến thắng nó, nhưng ai chiến thắng được sẽ đạt được an lạc.
Esa muñjaṁ parihare, Dhiratthu mama jīvitaṁ; Saṅgāme me mataṁ seyyo, Yañce jīve parājito.
Let me gird myself—curse my life! I’d rather die in battle than live on in defeat.
Ta mang theo cỏ muñja này. Thật đáng khinh cho cuộc sống này! Thà chết trong trận chiến còn hơn là sống mà bị đánh bại.
Pagāḷhettha na dissanti, Eke samaṇabrāhmaṇā; Tañca maggaṁ na jānanti, Yena gacchanti subbatā.
Here some ascetics and brahmins are swallowed up, not to be seen again. And they do not know the path traveled by those true to their vows.
Một số sa-môn và bà-la-môn bị chìm đắm trong đó không được nhìn thấy. Và họ không biết con đường mà những người có giới hạnh tốt đẹp đi theo.
Samantā dhajiniṁ disvā, Yuttaṁ māraṁ savāhanaṁ; Yuddhāya paccuggacchāmi, Mā maṁ ṭhānā acāvayi.
Seeing Māra ready with his legions, surrounded by his bannered forces, I shall meet them in battle—they’ll never make me retreat!
Thấy đạo quân cờ xí của ngươi vây quanh, thấy Ma vương cùng với vật cỡi đã sẵn sàng, ta sẽ ra nghênh chiến. Ngươi sẽ không thể lay chuyển ta khỏi vị trí này.
Yaṁ te taṁ nappasahati, Senaṁ loko sadevako; Taṁ te paññāya bhecchāmi, Āmaṁ pattaṁva asmanā.
That army of yours has never been beaten by the world with all its gods. Yet I shall smash it with wisdom, like an unfired pot with a stone.
Đạo quân của ngươi, mà thế gian cùng với chư thiên không thể khuất phục, ta sẽ dùng trí tuệ để phá tan nó, như dùng đá đập vỡ một cái bát bằng đất sét chưa nung.
Vasīkaritvā saṅkappaṁ, Satiñca sūpatiṭṭhitaṁ; Raṭṭhā raṭṭhaṁ vicarissaṁ, Sāvake vinayaṁ puthū.
Having brought my thoughts under control, and established mindfulness well, I shall wander from country to country, guiding many disciples.
Làm chủ được tư duy, và an lập vững chắc chánh niệm, ta sẽ đi từ xứ này sang xứ khác, giáo hóa nhiều đệ tử.
Te appamattā pahitattā, Mama sāsanakārakā; Akāmassa te gamissanti, Yattha gantvā na socare”.
Diligent and resolute, following my instructions, they will proceed despite your will, to where there is no sorrow.”
Họ, những người không phóng dật, tinh tấn, thực hành lời dạy của ta, sẽ đi đến nơi mà ngươi không mong muốn, nơi mà khi đã đến, họ không còn sầu muộn.
“Satta vassāni bhagavantaṁ, Anubandhiṁ padāpadaṁ; Otāraṁ nādhigacchissaṁ, Sambuddhassa satīmato.
“For seven years I followed step by step behind the Blessed One. I found no vulnerability in the mindful Awakened One.
Suốt bảy năm ta đã theo chân Đức Thế Tôn từng bước một; nhưng ta đã không tìm thấy một cơ hội nào đối với bậc Chánh Đẳng Giác, người luôn chánh niệm.
Medavaṇṇaṁva pāsāṇaṁ, Vāyaso anupariyagā; Apettha muduṁ vindema, Api assādanā siyā.
A crow once circled a stone that looked like a lump of fat. ‘Perhaps I’ll find something tender,’ it thought, ‘perhaps there’s something tasty.’
Một con quạ bay lượn quanh một hòn đá trông giống như một tảng mỡ, (nghĩ rằng): ‘Biết đâu ta tìm thấy thứ gì đó mềm mại ở đây, biết đâu có chút gì ngon ngọt’.
Aladdhā tattha assādaṁ, Vāyasetto apakkami; Kākova selamāsajja, Nibbijjāpema gotamaṁ”.
But finding nothing tasty, the crow left that place. Like the crow that pecked the stone, I leave Gotama disappointed.”
Không tìm thấy vị ngon ngọt nào ở đó, con quạ đã bay đi. Giống như con quạ mổ vào đá, chúng ta chán nản và rời bỏ Gotama.
Tassa sokaparetassa, Vīṇā kacchā abhassatha; Tato so dummano yakkho, Tatthevantaradhāyathāti.
So stricken with sorrow that his harp dropped from his armpit, that spirit, downcast, vanished right there.
Bị sầu muộn xâm chiếm, cây đàn của y rơi xuống từ dưới nách. Rồi con dạ-xoa ấy, lòng đầy phiền muộn, liền biến mất tại chỗ.
Padhānasuttaṁ dutiyaṁ.
Kinh Phấn Đấu, phẩm thứ hai, kết thúc.