- Sutta Nipāta 2.14
Dhammikasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Dhammikasutta
“Bạch ngài Gotama, bạch đấng có trí tuệ quảng đại, con xin hỏi Ngài: Người đệ tử tốt lành là người có hành động như thế nào, người (đệ tử) này hoặc là vị (xuất gia) rời nhà đi đến đời sống không nhà, hoặc là những vị cư sĩ có sở hữu căn nhà?
Bởi vì Ngài nhận biết cảnh giới tái sanh và việc đi đến bờ kia của thế gian luôn cả chư Thiên, và người có sự nhìn thấy ý nghĩa vi tế có thể sánh bằng (với Ngài) là không có, bởi vì người ta nói Ngài là đức Phật quý cao.
Sau khi biết mọi loại trí tuệ, trong lúc thương tưởng đến chúng sanh, Ngài (đã) giảng giải Giáo Pháp. Bạch đấng Toàn Nhãn, Ngài có màn che đã được cuốn lên. Không bị vết nhơ, Ngài chiếu sáng tất cả thế gian.
Vị vua của loài voi tên là Erāvaṇa đã đi đến gặp Ngài. Sau khi nghe rằng: ‘Đấng Chiến Thắng,’ vị ấy cũng đã thảo luận với Ngài, đã lắng nghe và (đã nói) rằng: ‘Lành thay,’ rồi đã ra đi với dáng vẻ hân hoan.
Vị vua Vessavaṇa Kuvera cũng đã đi đến gặp Ngài hỏi han về Giáo Pháp. Bạch bậc Sáng Trí, ngay cả đối với vị ấy, Ngài đã trả lời khi được hỏi. Và vị ấy nữa, sau khi lắng nghe cũng có dáng vẻ hân hoan.
Những ngoại đạo này, bất cứ những vị nào có bản tánh tranh luận, dầu là các đạo sĩ khổ hạnh hay là các đạo sĩ lõa thể, tất cả không vượt qua được Ngài về tuệ, tựa như kẻ đứng lại không vượt qua được người đi nhanh đang tiến bước.
Những Bà-la-môn này, bất cứ những vị nào có bản tánh tranh luận, và có cả những vị Bà-la-môn trưởng thượng nào đó nữa, luôn cả những kẻ khác đang nghĩ họ là những người tranh luận, tất cả đều bám vào ý nghĩa (của lời giải đáp) ở nơi Ngài.
Bạch đức Thế Tôn, bởi vì Giáo Pháp này là vi tế và (đem lại) an lạc, đã khéo được tuyên thuyết bởi Ngài. Tất cả đang mong muốn lắng nghe chính điều ấy. Bạch đức Phật tối thượng, đã được hỏi, xin Ngài hãy nói cho chúng con điều ấy.
Tất cả các vị tỳ khưu này cũng đã cùng nhau ngồi xuống để lắng nghe, các cư sĩ cũng tương tự y như thế. Hãy để họ lắng nghe Giáo Pháp đã được giác ngộ bởi bậc Vô Nhiễm, tựa như chư Thiên lắng nghe lời khéo nói của (Thiên Vương) Vāsava.
“Này các tỳ khưu, các ngươi hãy lắng nghe Ta. Ta nói cho các ngươi nghe về pháp từ khước; và tất cả hãy ghi nhớ điều ấy. Vị có sự nhìn thấy điều lợi ích, có niệm, nên thực hành (bốn) oai nghi phù hợp đối với các bậc xuất gia.
Thật vậy, vị tỳ khưu không nên đi đâu vào lúc không đúng thời, và nên đi vào làng để khất thực lúc đúng thời. Bởi vì, sự quyến luyến bám vào kẻ du hành không đúng thời. Vì thế, chư Phật không đi vào lúc không đúng thời.
Các sắc, các thinh, các vị, các hương, và các xúc, chúng làm say đắm các chúng sanh. Sau khi xua đi sự mong muốn ở các pháp ấy, vị ấy vào lúc đúng thời có thể đi vào (làng để khất thực) cho buổi ăn sáng.
Và sau khi đã nhận được vật thực hợp thời, vị tỳ khưu, một mình, sau khi quay trở về nên ngồi xuống ở nơi vắng vẻ, có tâm hướng nội phần, có bản ngã đã được nắm giữ tốt đẹp, không để cho ý buông lung ở ngoại cảnh.
Thậm chí, nếu vị ấy phải chuyện trò với người đệ tử, hoặc với kẻ khác, hoặc với bất cứ vị tỳ khưu nào, thì nên đề cập đến Giáo Pháp hảo hạng ấy, không nói đâm thọc, cũng không nói chỉ trích kẻ khác.
Bởi vì một số người phản kháng lại lời nói, chúng ta không ca ngợi những kẻ có tuệ nhỏ nhoi ấy. Các sự quyến luyến từ nơi này nơi khác đeo bám những kẻ ấy, bởi vì những kẻ ấy để cho tâm đi xa khỏi nơi ấy.
Sau khi lắng nghe Giáo Pháp được thuyết giảng bởi bậc Thiện Thệ, vị đệ tử có tuệ cao quý suy xét rồi thọ dụng đồ ăn khất thực, trú xá, chỗ nằm ngồi (giường ghế), và nước gột sạch bụi bám ở y hai lớp.
Chính vì thế, về đồ ăn khất thực, về chỗ nằm ngồi (giường ghế), và về nước gột sạch bụi bám ở y hai lớp, vị tỳ khưu không bám víu vào những pháp này, giống như những giọt nước ở lá sen.
Giờ đây, Ta nói về phận sự của người tại gia cho các ngươi. Có hành động như thế nào thì trở nên người đệ tử tốt lành. Bởi vì toàn bộ pháp hành ấy của tỳ khưu, người có vật sở hữu thì không thể nào đạt đến.
Không nên giết hại mạng sống và không nên bảo (kẻ khác) giết hại, không nên chấp thuận cho những kẻ khác đang giết hại. Sau khi bỏ xuống gậy gộc đối với tất cả chúng sanh, những loài không di động và những loài di động hiện hữu ở thế gian.
Kế đến, người đệ tử sáng suốt nên xa lánh bất cứ vật gì không được cho, ở bất cứ nơi đâu. Không nên bảo (kẻ khác) lấy trộm, không nên chấp nhận những kẻ đang lấy trộm, nên xa lánh mọi vật không được cho.
Người có sự hiểu biết nên xa lánh việc phi Phạm hạnh, tựa như (xa lánh) đống than hừng đang cháy rực. Hơn nữa, trong khi không đủ khả năng (sống) Phạm hạnh, không nên xâm phạm vợ của người khác.
Một người đi đến cuộc hội họp hoặc đi đến hội chúng không nên nói lời dối trá đối với người khác, không nên bảo (kẻ khác) nói (dối), không nên chấp nhận những kẻ đang nói (dối), nên xa lánh mọi điều không phải sự thật.
Người tại gia nào thích thú với Giáo Pháp này không nên thực hành việc uống chất say, không nên bảo (kẻ khác) uống (chất say), không nên chấp nhận những kẻ đang uống (chất say), sau khi biết rằng việc (uống chất say) ấy có sự điên cuồng là kết cuộc.
Bởi vì do say sưa, những kẻ ngu làm những việc xấu xa và còn làm cho những người khác cũng bị xao lãng. Nên xa lánh hẳn việc này, lãnh vực không có phước báu, sự điên cuồng, sự đần độn, được ưa thích bởi kẻ ngu.
Không nên giết hại sinh mạng, và không nên lấy vật không được cho, không nên nói lời dối trá, và không nên uống chất say, nên kiêng cử việc đôi lứa, việc phi Phạm hạnh, không nên ăn vật thực lúc phi thời, vào ban đêm.
Không nên đeo tràng hoa, và không nên sử dụng chất thơm, nên nằm ở chiếc giường, hoặc ở mặt đất đã được trải lót. Bởi vì việc ấy được gọi là là hạnh trai giới gồm có tám chi phần, đã được giảng giải bởi đức Phật, bậc đã đi đến sự chấm dứt của khổ đau.
Và kế đó, sau khi hành trì ngày trai giới hội đủ tám chi phần, có hình thức được hoàn toàn đầy đủ, với tâm tịnh tín, vào ngày mười bốn, ngày mười lăm, ngày thứ tám của nửa tháng, và (các) ngày phụ trội của nửa tháng, ...
... và sau đó vào buổi sáng, khi ngày trai giới đã được hành trì xong, người có sự hiểu biết, với tâm tịnh tín, trong khi đang hoan hỷ, nên dâng cúng cơm nước phù hợp với khả năng đến hội chúng tỳ khưu.
Người ấy nên phụng dưỡng mẹ cha đúng theo bổn phận, nên áp dụng việc buôn bán một cách đúng pháp. Người tại gia này, trong lúc duy trì cuộc sống (như vậy), không xao lãng, (sẽ) đi đến với chư Thiên có tên là ‘Sayaṃpabhā’ (tự mình có hào quang).
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Kinh Tập (Suttanipāta). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
14. Kinh Dhammika
Tôi nghe như vầy – một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của Anāthapiṇḍika. Bấy giờ, cư sĩ Dhammika cùng với năm trăm vị cư sĩ đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, cư sĩ Dhammika đã bạch với Thế Tôn bằng những câu kệ:
“Pucchāmi taṁ gotama bhūripañña, Kathaṅkaro sāvako sādhu hoti; Yo vā agārā anagārameti, Agārino vā panupāsakāse.
“I ask you, Gotama, whose wisdom is vast: what does one do to become a good disciple, both one who has left the home, and the lay followers staying at home?
“Con xin hỏi Ngài, hỡi Gotama, bậc có trí tuệ rộng lớn, một vị đệ tử phải làm thế nào để trở thành tốt lành; dù là người xuất gia từ bỏ gia đình, hay là những người tại gia là cư sĩ.”
Tuvañhi lokassa sadevakassa, Gatiṁ pajānāsi parāyaṇañca; Na catthi tulyo nipuṇatthadassī, Tuvañhi buddhaṁ pavaraṁ vadanti.
For you understand the course and destiny of the world with all its gods. There is no equal to you who sees the subtle meaning, for you are the Buddha most excellent, they say.
“Vì Ngài biết rõ đường đi và nơi đến của thế gian cùng với chư thiên; không có ai sánh bằng Ngài trong việc thấy được ý nghĩa vi tế, vì họ gọi Ngài là vị Phật tối thượng.”
Sabbaṁ tuvaṁ ñāṇamavecca dhammaṁ, Pakāsesi satte anukampamāno; Vivaṭṭacchadosi samantacakkhu, Virocasi vimalo sabbaloke.
Having experienced all knowledge, you reveal the teaching out of sympathy for beings. All-seer, you have cast off the veil, and immaculate, you shine on the whole world.
“Ngài, sau khi đã thấu triệt tất cả kiến thức và Giáo pháp, đã tuyên thuyết cho chúng sanh vì lòng bi mẫn; Ngài là người đã vén mở tấm màn che, có con mắt toàn diện, không tỳ vết, Ngài tỏa sáng khắp thế gian.”
Āgañchi te santike nāgarājā, Erāvaṇo nāma jinoti sutvā; Sopi tayā mantayitvājjhagamā, Sādhūti sutvāna patītarūpo.
The dragon king Erāvaṇa, <j>hearing you called ‘Victor’, came into your presence. He consulted with you then, <j>having heard your words, left consoled, saying ‘Excellent!’
“Vua rồng tên là Erāvaṇa đã đến gần Ngài, sau khi nghe rằng Ngài là bậc Chiến Thắng; vị ấy cũng đã đàm luận với Ngài và đã hiểu ra, sau khi nghe ‘Lành thay!’, vị ấy đã hoan hỷ.”
Rājāpi taṁ vessavaṇo kuvero, Upeti dhammaṁ paripucchamāno; Tassāpi tvaṁ pucchito brūsi dhīra, So cāpi sutvāna patītarūpo.
And King Kuvera Vessavaṇa also approached to ask about the teaching. You also answered him, O attentive one, and hearing you he too was consoled.
“Cả vua Vessavaṇa Kuvera cũng đến gần Ngài, để hỏi về Giáo pháp; hỡi bậc Anh Hùng, khi được hỏi, Ngài đã giảng cho vị ấy, và vị ấy sau khi nghe cũng đã hoan hỷ.”
Ye kecime titthiyā vādasīlā, Ājīvakā vā yadi vā nigaṇṭhā; Paññāya taṁ nātitaranti sabbe, Ṭhito vajantaṁ viya sīghagāmiṁ.
Those monastics of other religions given to debate, whether Ājīvakas or Jains, all fail to overtake you in wisdom, like a standing man next to a sprinter.
“Bất kỳ những người theo ngoại đạo nào có khuynh hướng tranh luận, dù là Ājīvaka hay Nigaṇṭha; tất cả họ đều không thể vượt qua Ngài về trí tuệ, cũng như người đang đứng không thể vượt qua người đang đi nhanh.”
Ye kecime brāhmaṇā vādasīlā, Vuddhā cāpi brāhmaṇā santi keci; Sabbe tayi atthabaddhā bhavanti, Ye cāpi aññe vādino maññamānā.
Those brahmins given to debate, some of whom are quite senior, all end up beholden to you for the meaning, and others too who think themselves debaters.
“Bất kỳ những vị Bà-la-môn nào có khuynh hướng tranh luận, và cũng có một số vị Bà-la-môn lớn tuổi; tất cả họ đều phụ thuộc vào Ngài về ý nghĩa, và cả những người khác tự cho mình là người tranh luận cũng vậy.”
Ayañhi dhammo nipuṇo sukho ca, Yoyaṁ tayā bhagavā suppavutto; Tameva sabbepi sussūsamānā, Taṁ no vada pucchito buddhaseṭṭha.
So subtle and pleasant is the teaching that is well proclaimed by you, Blessed One. It’s all we long to hear. So when asked, O Best of Buddhas, tell us!
Bạch Thế Tôn, Pháp này vi diệu và an lạc, là Pháp mà Ngài đã khéo thuyết giảng. Tất cả chúng con đều muốn lắng nghe Pháp ấy. Xin bậc Tối Thắng Giác Ngộ, người được hỏi, hãy giảng Pháp ấy cho chúng con.
Sabbepime bhikkhavo sannisinnā, Upāsakā cāpi tatheva sotuṁ; Suṇantu dhammaṁ vimalenānubuddhaṁ, Subhāsitaṁ vāsavasseva devā”.
All these mendicants have gathered, and the layfolk too are here to listen. Let them hear the teaching <j>the immaculate one discovered, like gods listening to the fine words of Vāsava.”
Tất cả các vị Tỳ khưu này của con đã ngồi xuống, và các vị cận sự nam cũng vậy, để lắng nghe. Mong rằng họ hãy lắng nghe Pháp đã được bậc Vô Cấu giác ngộ, giống như chư Thiên lắng nghe lời khéo nói của Vāsava (Đế Thích).
“Suṇātha me bhikkhavo sāvayāmi vo, Dhammaṁ dhutaṁ tañca carātha sabbe; Iriyāpathaṁ pabbajitānulomikaṁ, Sevetha naṁ atthadaso mutīmā.
“Listen to me, mendicants, I will educate you in the cleansing teaching; all bear it in mind. A thoughtful person, seeing the meaning, would adopt the deportment <j>proper to a renunciate.
Này các Tỳ khưu, hãy lắng nghe ta, ta sẽ giảng cho các ngươi Pháp gột rửa (phiền não). Tất cả các ngươi hãy thực hành Pháp ấy. Bậc trí tuệ, người thấy được lợi ích, hãy thực hành oai nghi phù hợp với người xuất gia.
No ve vikāle vicareyya bhikkhu, Gāme ca piṇḍāya careyya kāle; Akālacāriñhi sajanti saṅgā, Tasmā vikāle na caranti buddhā.
No way would a mendicant go out at the wrong time; at the right time, they’d walk the village for alms. For chains bind one who wanders at the wrong time, which is why the Buddhas avoid it.
Vị Tỳ khưu không nên đi lại vào phi thời, và nên đi vào làng để khất thực đúng thời. Vì những ràng buộc bám víu vào người đi lại phi thời, do đó các bậc Giác Ngộ không đi lại vào phi thời.
Rūpā ca saddā ca rasā ca gandhā, Phassā ca ye sammadayanti satte; Etesu dhammesu vineyya chandaṁ, Kālena so pavise pātarāsaṁ.
Sights, sounds, tastes, smells, and touches, which drive beings mad—dispel desire for such things, and enter for the morning meal at the right time.
Đối với các sắc, thanh, hương, vị, và xúc, những thứ làm chúng sanh say đắm, sau khi đã nhiếp phục dục tham trong các pháp này, vị Tỳ khưu ấy nên đi vào (làng) đúng thời để nhận vật thực buổi sáng.
Piṇḍañca bhikkhu samayena laddhā, Eko paṭikkamma raho nisīde; Ajjhattacintī na mano bahiddhā, Nicchāraye saṅgahitattabhāvo.
After receiving alms for the day, on returning a mendicant would sit in private alone. Inwardly reflective, they’d curb their mind from outside things, keeping themselves collected.
Vị Tỳ khưu, sau khi nhận được vật thực khất thực đúng thời, hãy trở về một mình và ngồi ở nơi vắng vẻ. Với tâm tư duy về nội tâm, không để tâm hướng ra bên ngoài, hãy sống với tự thân được kiểm soát.
Sacepi so sallape sāvakena, Aññena vā kenaci bhikkhunā vā; Dhammaṁ paṇītaṁ tamudāhareyya, Na pesuṇaṁ nopi parūpavādaṁ.
Should they converse with a disciple, with anyone else, or with a mendicant, they’d bring up only the sublime teaching, not dividing or blaming.
Nếu vị ấy nói chuyện với một vị thinh văn, hoặc với một người nào khác, hoặc với một vị Tỳ khưu khác, vị ấy nên nói về Pháp cao thượng, không nói lời đâm thọc, cũng không nói lời chỉ trích người khác.
Vādañhi eke paṭiseniyanti, Na te pasaṁsāma parittapaññe; Tato tato ne pasajanti saṅgā, Cittañhi te tattha gamenti dūre.
For some contend in debate, but we praise not those of little wisdom. In place after place they are bound in chains, for they send their mind over there far away.
Một số người chống đối bằng tranh luận; chúng ta không tán thán những người có trí tuệ hạn hẹp ấy. Từ đó, những ràng buộc bám víu vào họ, và tâm của họ bị dẫn đi xa vào nơi ấy.
Piṇḍaṁ vihāraṁ sayanāsanañca, Āpañca saṅghāṭirajūpavāhanaṁ; Sutvāna dhammaṁ sugatena desitaṁ, Saṅkhāya seve varapaññasāvako.
Alms, a dwelling, a bed and seat, and water for rinsing the dust from the cloak—after hearing the teaching of the Holy One, a disciple of outstanding wisdom <j>would use these after appraisal.
Vị thinh văn có trí tuệ bậc cao, sau khi nghe Pháp do bậc Thiện Thệ thuyết giảng, hãy sử dụng vật thực, trú xứ, sàng tọa, nước, và việc giặt sạch bụi bẩn của y Tăng-già-lê một cách có suy xét.
Tasmā hi piṇḍe sayanāsane ca, Āpe ca saṅghāṭirajūpavāhane; Etesu dhammesu anūpalitto, Bhikkhu yathā pokkhare vāribindu.
That’s why, when it comes to alms and lodgings, and water for rinsing the dust from the cloak, a mendicant is unsullied in the midst of these things, like a droplet on a lotus-leaf.
Do đó, đối với vật thực, sàng tọa, nước, và việc giặt sạch bụi bẩn của y Tăng-già-lê, vị Tỳ khưu không bị dính mắc trong các vật dụng này, giống như giọt nước trên lá sen.
Gahaṭṭhavattaṁ pana vo vadāmi, Yathākaro sāvako sādhu hoti; Na hesa labbhā sapariggahena, Phassetuṁ yo kevalo bhikkhudhammo.
Now I shall tell you the householder’s duty, doing which one becomes a good disciple. For one burdened with possessions <j>does not get to realize the whole of the mendicant’s practice.
Bây giờ, ta sẽ nói cho các ngươi về bổn phận của người tại gia, mà khi thực hành theo đó, người thinh văn trở nên tốt lành. Quả thật, Pháp của Tỳ khưu thuần túy không thể được chứng đắc bởi người có tài sản.
Pāṇaṁ na hane na ca ghātayeyya, Na cānujaññā hanataṁ paresaṁ; Sabbesu bhūtesu nidhāya daṇḍaṁ, Ye thāvarā ye ca tasā santi loke.
They’d not kill any creature, nor have them killed, nor grant permission for others to kill. They’ve laid aside violence toward all creatures frail or firm that there are in the world.
Không nên giết hại sinh mạng, không nên sai khiến giết hại, cũng không nên chấp thuận việc giết hại của người khác, sau khi đã từ bỏ hình phạt đối với tất cả chúng sanh, cả những loài kiên cố và những loài run sợ có mặt trong thế gian.
Tato adinnaṁ parivajjayeyya, Kiñci kvaci sāvako bujjhamāno; Na hāraye harataṁ nānujaññā, Sabbaṁ adinnaṁ parivajjayeyya.
Next, a disciple would avoid knowingly taking anything not given at all, they’d not get others to do it, <j>nor grant them permission to steal; they’d avoid <em>all</em> theft.
Sau đó, người thinh văn, khi biết rõ, nên tránh lấy bất cứ thứ gì không được cho ở bất cứ đâu. Không nên sai khiến lấy, không nên chấp thuận người khác lấy; nên tránh tất cả những gì không được cho.
Abrahmacariyaṁ parivajjayeyya, Aṅgārakāsuṁ jalitaṁva viññū; Asambhuṇanto pana brahmacariyaṁ, Parassa dāraṁ na atikkameyya.
A sensible person would avoid the unchaste life, like a burning pit of coals. But if unable to remain chaste, they’d not transgress with another’s partner.
Người có trí nên tránh xa hành vi không phạm hạnh như tránh hố than hừng. Tuy nhiên, nếu không thể sống đời phạm hạnh, không nên xâm phạm vợ của người khác.
Sabhaggato vā parisaggato vā, Ekassa veko na musā bhaṇeyya; Na bhāṇaye bhaṇataṁ nānujaññā, Sabbaṁ abhūtaṁ parivajjayeyya.
In a council or assembly, or one on one, they would not lie. They’d not get others to lie, <j>nor grant them permission to lie; they’d avoid <em>all</em> untruths.
Khi đến hội trường hay đến giữa hội chúng, một người không nên nói dối với người khác. Không nên sai khiến nói dối, không nên chấp thuận người khác nói dối; nên tránh tất cả những gì không thật.
Majjañca pānaṁ na samācareyya, Dhammaṁ imaṁ rocaye yo gahaṭṭho; Na pāyaye pivataṁ nānujaññā, Ummādanantaṁ iti naṁ viditvā.
A householder espousing this teaching would not consume liquor or drink. They’d not get others to drink, <j>nor grant them permission to drink; knowing that ends in intoxication.
Người tại gia nào ưa thích pháp này, không nên uống các chất say. Không nên sai khiến người khác uống, không nên chấp thuận người khác uống, sau khi biết rằng nó kết thúc trong sự điên cuồng.
Madā hi pāpāni karonti bālā, Kārenti caññepi jane pamatte; Etaṁ apuññāyatanaṁ vivajjaye, Ummādanaṁ mohanaṁ bālakantaṁ.
For drunken fools do bad things, and encourage other heedless folk. Shun this field of demerit, the maddening, deluding frolic of fools.
Vì do say sưa, kẻ ngu si làm các điều ác, và cũng khiến những người khác trở nên buông lung. Hãy tránh xa nền tảng của sự tổn phước này, là thứ gây điên cuồng, mê muội, và được kẻ ngu ưa thích.
Pāṇaṁ na hane na cādinnamādiye, Musā na bhāse na ca majjapo siyā; Abrahmacariyā virameyya methunā, Rattiṁ na bhuñjeyya vikālabhojanaṁ.
You shouldn’t kill living creatures, or steal, or lie, or drink liquor. Be chaste, refraining from sex, and don’t eat at night, the wrong time.
Không nên giết hại sinh mạng, không nên lấy của không cho, không nên nói dối, và không nên là người uống rượu. Nên từ bỏ hành vi không phạm hạnh, tức là giao hợp. Không nên ăn vào ban đêm, (không nên) ăn phi thời.
Mālaṁ na dhāre na ca gandhamācare, Mañce chamāyaṁ va sayetha santhate; Etañhi aṭṭhaṅgikamāhuposathaṁ, Buddhena dukkhantagunā pakāsitaṁ.
Not wearing garlands or applying fragrance, you should sleep on a low bed, <j>or a mat on the ground. This is the eight-factored sabbath, they say, revealed by the Buddha, <j>who has gone to suffering’s end.
Không nên đeo vòng hoa, không nên dùng hương thơm. Nên nằm trên giường (thấp) hoặc trên nền đất đã được trải sẵn. Đây được gọi là ngày Bố-tát tám giới, do Đức Phật, người đã đi đến tận cùng của khổ, tuyên thuyết.
Tato ca pakkhassupavassuposathaṁ, Cātuddasiṁ pañcadasiñca aṭṭhamiṁ; Pāṭihāriyapakkhañca pasannamānaso, Aṭṭhaṅgupetaṁ susamattarūpaṁ.
Then having rightly undertaken the sabbath complete in all its eight factors on the fourteenth, fifteenth, <j>and eighth of the fortnight, as well as on the fortnightly special displays,
Sau đó, vào ngày thứ mười bốn, mười lăm, và ngày thứ tám của mỗi nửa tháng, hãy thọ trì ngày Bố-tát, và cả vào những ngày đặc biệt của nửa tháng, với tâm hoan hỷ, (thọ trì) tám giới một cách trọn vẹn.
Tato ca pāto upavutthuposatho, Annena pānena ca bhikkhusaṅghaṁ; Pasannacitto anumodamāno, Yathārahaṁ saṁvibhajetha viññū.
at daybreak after the sabbath a clever person, rejoicing with confident heart, would distribute food and drink to the mendicant Saṅgha as is fitting.
Sau đó, vào buổi sáng, sau khi đã thọ trì Bố-tát, người có trí, với tâm hoan hỷ và tùy hỷ, hãy chia sớt cho Tăng chúng các món ăn và thức uống tùy theo khả năng.
Dhammena mātāpitaro bhareyya, Payojaye dhammikaṁ so vaṇijjaṁ; Etaṁ gihī vattayamappamatto, Sayampabhe nāma upeti deve”ti.
One should rightfully support one’s parents, and undertake a legitimate business. A diligent layperson observing these duties ascends to the gods called Self-luminous.”
Vị ấy nên nuôi dưỡng cha mẹ một cách đúng pháp, và nên tham gia vào việc buôn bán chân chính. Người tại gia thực hành điều này một cách không buông lung sẽ đến được cõi trời Tự Quang.
Dhammikasuttaṁ cuddasamaṁ.
Kinh Dhammika, kinh thứ mười bốn, đã kết thúc.
Cūḷavaggo dutiyo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Nhỏ, phẩm thứ hai, đã kết thúc.
Ratanāmagandho hiri ca, maṅgalaṁ sūcilomena; Dhammacariyañca brāhmaṇo, nāvā kiṁsīlamuṭṭhānaṁ.
Ratana, Āmagandha, và Hiri, Maṅgala, Sūciloma; Dhammacariya và Brāhmaṇa, Nāvā, Kiṃsīla, Uṭṭhāna.
Rāhulo puna kappo ca, paribbājaniyaṁ tathā; Dhammikañca viduno āhu, cūḷavagganti cuddasāti.
Rāhula, và Kappa nữa, cũng như Paribbājaniya; và Dhammika. Bậc trí nói rằng mười bốn kinh này được gọi là Phẩm Nhỏ (Cūḷavagga).