- Saṁyutta Nikāya 9.11
- 1. Vanavagga
Bản dịch
SN 9.11 — Kinh Bất Thiện Tầm
Akusalavitakkasutta
Vi-n 1 Một thời, một Tỷ-kheo trú ở giữa dân chúng Kosala tại một khu rừng.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo ấy, khi đang nghỉ ban ngày, khởi lên những tư duy ác, bất thiện, như dục tư duy, sân tư duy, hại tư duy.
Vi-n 3 Rồi vị Thiên trú ở khu rừng ấy, vì lòng thương xót Tỷ-kheo, muốn lợi ích, muốn cảnh giác, liền đi đến Tỷ-kheo ấy.
Vi-n 4 Sau khi đến, vị Thiên ấy nói lên những bài kệ cho Tỷ-kheo:
Ông tác ý bất chánh,
Nên say đắm tư duy.
Hãy từ bỏ bất chánh,
Hãy tư duy chơn chánh,
Nương tựa Phật, Pháp, Tăng,
Giữ giới, không thối chuyển,
Ông chắc chắn chứng đạt,
Hân hoan và hỷ lạc.
Với hân hoan sung mãn,
Ông chấm dứt khổ đau.
Vi-n 5 Rồi Tỷ-kheo ấy, được vị Thiên ấy cảnh giác, tâm hết sức xúc động.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 9.11
- 1. In the Woods
Unskillful Thoughts
11. Kinh Bất Thiện Tầm
Ekaṁ samayaṁ aññataro bhikkhu kosalesu viharati aññatarasmiṁ vanasaṇḍe.
Tena kho pana samayena so bhikkhu divāvihāragato pāpake akusale vitakke vitakketi, seyyathidaṁ—kāmavitakkaṁ, byāpādavitakkaṁ, vihiṁsāvitakkaṁ. Atha kho yā tasmiṁ vanasaṇḍe adhivatthā devatā tassa bhikkhuno anukampikā atthakāmā taṁ bhikkhuṁ saṁvejetukāmā yena so bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ gāthāhi ajjhabhāsi:
At one time one of the mendicants was staying in the land of the Kosalans in a certain forest grove.
Now at that time that mendicant, during their day’s meditation, was thinking bad, unskillful thoughts, that is, sensual, malicious, and cruel thoughts. The deity haunting that forest had sympathy for that mendicant, and wanted what’s best for them. So they approached that mendicant wanting to stir them up, and addressed them in verse:
231. Một thời, một vị tỳ khưu nọ trú ở một khu rừng trong xứ Kosala. Vào lúc bấy giờ, vị tỳ khưu ấy, trong khi an trú ban ngày, đã khởi lên những tư duy xấu ác, bất thiện, đó là: dục tầm, sân tầm, và hại tầm. Bấy giờ, vị thiên nhân trú trong khu rừng ấy, có lòng thương xót, mong muốn lợi ích cho vị tỳ khưu ấy, và muốn làm cho vị ấy xúc động, liền đi đến chỗ vị tỳ khưu ấy; sau khi đến, đã nói với vị tỳ khưu ấy bằng những bài kệ:
“Ayoniso manasikārā, so vitakkehi khajjasi; Ayoniso paṭinissajja, yoniso anucintaya.
“Because of irrational application of mind, you’re consumed by your thoughts. When you’ve given up irrationality, make sure your thoughts are rational.
“Do tác ý không như lý, ngài bị các tư duy xấu ác gặm nhấm. Hãy từ bỏ tác ý không như lý, và hãy suy tư một cách như lý.
Satthāraṁ dhammamārabbha, saṅghaṁ sīlāni attano; Adhigacchasi pāmojjaṁ, pītisukhamasaṁsayaṁ; Tato pāmojjabahulo, dukkhassantaṁ karissasī”ti.
Thinking about the Teacher, the teaching, the Saṅgha, and your own ethics, you’ll find gladness, and rapture and bliss as well, no doubt. And when you’re full of joy, you’ll make an end to suffering.”
“Hãy khởi sự nỗ lực hướng về Bậc Đạo Sư, về Pháp, về Tăng, và về giới của chính mình. Chắc chắn ngài sẽ đạt được sự hân hoan, hỷ và lạc. Rồi, với lòng tràn đầy hân hoan, ngài sẽ chấm dứt khổ đau.”
Atha kho so bhikkhu tāya devatāya saṁvejito saṁvegamāpādīti.
Impelled by that deity, that mendicant was struck with a sense of urgency.
Bấy giờ, vị tỳ khưu ấy được vị thiên nhân ấy làm cho xúc động, đã sanh tâm xúc động.