- Saṁyutta Nikāya 9.10
- 1. Vanavagga
Bản dịch
SN 9.10 — Kinh Tụng Đọc
Sajjhāyasutta
Vi-n 1 Một thời, một Tỷ-kheo sống giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo ấy trước kia siêng năng tụng kinh rất nhiều, sau một thời gian, trở thành thụ động, im lặng, an phận.
Vi-n 3 Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy không được nghe pháp từ Tỷ-kheo ấy, liền đi đến vị ấy.
Vi-n 4 Sau khi đến, vị Thiên ấy nói lên những bài kệ cho Tỷ-kheo ấy:
Này Tỷ-kheo, sao Ông
Vi-n 5 (Vị Tỷ-kheo):
Sống chung các Tỷ-kheo,
Lại không chịu tụng đọc,
Các kinh điển pháp cú?
Ai nghe thuyết Chánh pháp,
Tâm sanh được tịnh tín.
Và ngay đời hiện tại,
Ðược mọi người tán thán.Trước kia đối pháp cú,
Ta tha thiết tìm hiểu,
Cho đến khi chứng được,
Quả vị bậc ly dục;
Từ khi chứng ly dục,
Mọi thấy, nghe, xúc cảm,
Nhờ trí tuệ hiểu biết,
Ðều được bỏ một bên.
Chính các bậc Hiền thiện,
Giảng dạy là như vậy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 9.10
- 1. In the Woods
Recitation
10. Kinh Tụng Đọc
Ekaṁ samayaṁ aññataro bhikkhu kosalesu viharati aññatarasmiṁ vanasaṇḍe.
Tena kho pana samayena so bhikkhu yaṁ sudaṁ pubbe ativelaṁ sajjhāyabahulo viharati so aparena samayena appossukko tuṇhībhūto saṅkasāyati. Atha kho yā tasmiṁ vanasaṇḍe adhivatthā devatā tassa bhikkhuno dhammaṁ asuṇantī yena so bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ gāthāya ajjhabhāsi:
At one time one of the mendicants was staying in the land of the Kosalans in a certain forest grove.
Now at that time that mendicant had previously been spending too much time rehearsing. But some time later they adhered to passivity and silence. Not hearing the teaching, the deity haunting that forest approached that mendicant, and addressed them in verse:
230. Một thời, một vị tỳ khưu nọ trú ở một khu rừng trong xứ Kosala. Vào lúc bấy giờ, vị tỳ khưu ấy, trước kia thường xuyên chuyên tâm tụng đọc, về sau trở nên ít bận tâm, im lặng, và sống an nhàn. Bấy giờ, vị thiên nhân trú trong khu rừng ấy, không nghe được Pháp do vị tỳ khưu ấy tụng đọc, liền đi đến chỗ vị tỳ khưu ấy; sau khi đến, đã nói với vị tỳ khưu ấy bằng một bài kệ:
“Kasmā tuvaṁ dhammapadāni bhikkhu, Nādhīyasi bhikkhuhi saṁvasanto; Sutvāna dhammaṁ labhatippasādaṁ, Diṭṭheva dhamme labhatippasaṁsan”ti.
“Mendicant, why don’t you recite <j>passages of the teaching, living together with other mendicants? Hearing the teaching, one garners confidence; and in this very life, one garners praise.”
“Này tỳ khưu, vì sao ngài không học thuộc các pháp cú khi sống chung với các tỳ khưu? Sau khi nghe Pháp, người ta có được tín tâm, và ngay trong hiện tại, người ta được tán thán.”
“Ahu pure dhammapadesu chando, Yāva virāgena samāgamimha; Yato virāgena samāgamimha, Yaṁ kiñci diṭṭhaṁva sutaṁ mutaṁ vā; Aññāya nikkhepanamāhu santo”ti.
“I used to be zealous for <j>passages of the teaching, until I encountered dispassion. When I encountered dispassion, whatever was seen, heard, and thought, this, good people say, is the laying down <j>by complete understanding.”
“Trước kia, ta có ước muốn đối với các pháp cú, cho đến khi ta đạt được sự ly tham. Kể từ khi ta đạt được sự ly tham, sau khi đã biết rõ bất cứ điều gì được thấy, được nghe, hay được cảm nhận, các bậc thánh thiện nói rằng đó là sự xả ly.”