- Saṁyutta Nikāya 55.26
- 3. Saraṇānivagga
Bản dịch
SN 55.26 — Kinh Cấp Cô Độc, phẩm thứ nhất
Paṭhamaanāthapiṇḍikasutta
Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, gia chủ Anāthapiṇḍika đang bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh.
Vi-n 3 Rồi gia chủ Anāthapiṇḍika bảo một người:
—Hãy đến, này Bạn. Hãy đi đến Tôn giả Sāriputta; sau khi đến nhân danh ta, cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Sāriputta và thưa: “Gia chủ Anāthapiṇḍika, thưa Tôn giả, bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh, cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Sāriputta”; và thưa: “Lành thay, thưa Tôn giả, nếu Tôn giả Sāriputta đi đến trú xứ của gia chủ Anāthapiṇḍika vì lòng từ mẫn!”
—Thưa vâng, Gia chủ.
Người ấy, vâng đáp gia chủ Anāthapiṇḍika, đi đến Tôn giả Sāriputta; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Sāriputta rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 4 Ngồi một bên, người ấy thưa với Tôn giả Sāriputta:
—Gia chủ Anāthapiṇḍika, thưa Tôn giả, bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh, xin cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Sāriputta, gia chủ thưa: “Lành thay, thưa Tôn giả, nếu Tôn giả Sāriputta đi đến trú xứ của gia chủ Anāthapiṇḍika vì lòng từ mẫn!”
Tôn giả Sāriputta im lặng nhận lời.
Vi-n 5 Rồi Tôn giả Sāriputta, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát với Tôn giả Ānanda là Sa-môn tùy tùng, đi đến trú xứ của gia chủ Anāthapiṇḍika; sau khi đến, ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn. Ngồi xuống, Tôn giả Sāriputta nói với gia chủ Anāthapiṇḍika:
—Này Gia chủ, Gia chủ có kham nhẫn nổi không? Gia chủ có chịu đựng nổi không? Có phải khổ thọ giảm thiểu, không có tăng trưởng? Có phải có dấu hiệu giảm thiểu, không có tăng trưởng?
—Thưa Tôn giả, con không thể kham nhẫn. Con không thể chịu đựng. Kịch liệt là khổ thọ nơi con. Chúng tăng trưởng, không có giảm thiểu. Có dấu hiệu chúng tăng trưởng, không giảm thiểu.
Vi-n 6 —Vì rằng kẻ vô văn phàm phu, này Gia chủ, thành tựu lòng bất tín đối với Phật, nên sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào ác sanh, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nhưng Gia chủ không có lòng bất tín đối với Phật. Trái lại, Gia chủ thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng … Phật, Thế Tôn”. Nếu Gia chủ tự thấy lòng tịnh tín bất động của Gia chủ đối với đức Phật, thời lập tức các cảm thọ của Gia chủ được an tịnh.
Vi-n 7 Vì rằng kẻ vô văn phàm phu, này Gia chủ, thành tựu lòng bất tín đối với Pháp, nên sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nhưng Gia chủ không có lòng bất tín đối với Pháp. Trái lại, Gia chủ thành tựu tịnh tín bất động đối với Pháp: “Pháp được Thế Tôn khéo thuyết … tự mình giác hiểu”. Nếu Gia chủ tự mình thấy lòng tịnh tín bất động đối với Pháp, thời lập tức các cảm thọ của Gia chủ được an tịnh.
Vi-n 8 Vì rằng kẻ vô văn phàm phu, này Gia chủ, thành tựu lòng bất tín đối với chúng Tăng, nên sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào ác sanh, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nhưng Gia chủ không có lòng bất tín như vậy đối với chúng Tăng. Trái lại, Gia chủ thành tựu tịnh tín đối với chúng Tăng: “Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn … là phước điền vô thượng ở đời”. Nếu Gia chủ tự mình thấy lòng tịnh tín bất động đối với chúng Tăng, thời lập tức các cảm thọ của Gia chủ được an tịnh.
Vi-n 9 Vì rằng kẻ vô văn phàm phu, này Gia chủ, thành tựu ác giới, nên sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào … địa ngục. Nhưng Gia chủ không có ác giới như vậy. Trái lại, Gia chủ có giới được các bậc Thánh ái kính … đưa đến Thiền định. Nếu Gia chủ tự thấy các giới được các bậc Thánh ái kính ấy, thời lập tức các cảm thọ của Gia chủ được an tịnh.
Vi-n 10 Vì rằng kẻ vô văn phàm phu, này Gia chủ, thành tựu tà kiến như vậy, nên sau khi thân hoại … địa ngục. Nhưng Gia chủ không có tà kiến như vậy. Trái lại, Gia chủ có chánh kiến. Nếu Gia chủ tự mình thấy chánh kiến của Gia chủ, thời lập tức các cảm thọ của Gia chủ được an tịnh.
Vi-n 11-19. Vì rằng kẻ vô văn phàm phu, này Gia chủ, thành tựu tà tư duy … tà ngữ … tà nghiệp … tà mạng … tà tinh tấn … tà niệm … tà định … tà trí … tà giải thoát như vậy, nên sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nhưng Gia chủ không có từ tư duy … tà ngữ … tà nghiệp … tà mạng … tà tinh tấn … tà niệm … tà định … tà trí … tà giải thoát như vậy. Trái lại, Gia chủ có chánh tư duy … chánh ngữ … chánh nghiệp … chánh mạng … chánh tinh tấn … chánh niệm … chánh định … chánh trí … chánh giải thoát. Nếu Gia chủ tự mình thấy chánh tư duy … chánh ngữ … chánh nghiệp … chánh mạng … chánh tinh tấn … chánh niệm … chánh định … chánh trí … chánh giải thoát của Gia chủ, thời lập tức các cảm thọ của Gia chủ được an tịnh.
Vi-n 20 Rồi các cảm thọ của gia chủ Anāthapiṇḍika lập tức được an tịnh.
Vi-n 21 Rồi gia chủ Anāthapiṇḍika mời Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Ānanda dùng bữa ăn (từ nơi nồi nấu cơm của mình).
Vi-n 22 Sau khi Tôn giả Sāriputta ăn xong, tay đã rời khỏi bát, gia chủ Anāthapiṇḍika đi đến Tôn giả Sāriputta; sau khi đến, lấy một ghế thấp và ngồi xuống một bên.
Vi-n 23 Tôn giả Sāriputta tán thán gia chủ Anāthapiṇḍika với những lời kệ này:
Ai tin tưởng Như Lai,
Bất động khéo an lập.
Ai có giới thiện lành,
Ðược bậc Thánh ái kính.
Ai tin tưởng chúng Tăng,
Sở kiến được chánh trực,
Người ấy gọi “Không nghèo”,
Ðời sống không uổng phí.
Do vậy, bậc Hiền minh
Cần tu tập tín giới,
Thấy rõ được Chánh pháp,
Không quên lời Phật dạy.
Vi-n 24 Rồi Tôn giả Sāriputta, sau khi nói lời hoan hỷ tán thán với các lời kệ này, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Vi-n 25 Rồi Tôn giả Ānanda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Aananda đang ngồi một bên:
Vi-n 26 —Này Ānanda, Ông đi đâu để nghỉ trưa?
—Bạch Thế Tôn, gia chủ Anāthapiṇḍika đã được Tôn giả Sāriputta giáo giới với lời giáo giới như thế này, thế này …
—Hiền minh, này Ānanda, là Sāriputta! Ðại tuệ, này Ānanda, là Sāriputta! Vị ấy có thể chia chẻ bốn Dự lưu phần thành mười tướng.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 55.26
- 3. About Sarakāni
With Anāthapiṇḍika (1st)
6. Kinh Cấp Cô Độc, phẩm thứ nhất
Sāvatthinidānaṁ.
Tena kho pana samayena anāthapiṇḍiko gahapati ābādhiko hoti dukkhito bāḷhagilāno. Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati aññataraṁ purisaṁ āmantesi: “ehi tvaṁ, ambho purisa, yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā mama vacanena āyasmato sāriputtassa pāde sirasā vanda: ‘anāthapiṇḍiko, bhante, gahapati ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno. So āyasmato sāriputtassa pāde sirasā vandatī’ti. Evañca vadehi: ‘sādhu kira, bhante, āyasmā sāriputto yena anāthapiṇḍikassa gahapatissa nivesanaṁ tenupasaṅkamatu anukampaṁ upādāyā’”ti.
At Sāvatthī.
Now at that time the householder Anāthapiṇḍika was sick, suffering, gravely ill. Then he addressed a man, “Please, my man, go to Venerable Sāriputta, and in my name bow with your head to his feet. Say to him: ‘Sir, the householder Anāthapiṇḍika is sick, suffering, gravely ill. He bows with his head to your feet.’ And then say: ‘Sir, please visit him at his home out of sympathy.’”
1022. Nhân duyên ở Sāvatthī. Vào lúc bấy giờ, gia chủ Anāthapiṇḍika bị bệnh, đau đớn, lâm trọng bệnh. Bấy giờ, gia chủ Anāthapiṇḍika cho gọi một người đàn ông và bảo rằng: – ‘Này ông, ông hãy đi đến chỗ của Tôn giả Sāriputta; sau khi đến, hãy nhân danh tôi, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Tôn giả Sāriputta và thưa rằng: ‘Bạch ngài, gia chủ Anāthapiṇḍika đang bị bệnh, đau đớn, lâm trọng bệnh. Vị ấy xin cúi đầu đảnh lễ dưới chân Tôn giả Sāriputta.’ Và hãy thưa thêm như vầy: ‘Bạch ngài, lành thay, kính mong Tôn giả Sāriputta vì lòng bi mẫn mà đi đến nhà của gia chủ Anāthapiṇḍika.’”
“Evaṁ, bhante”ti kho so puriso anāthapiṇḍikassa gahapatissa paṭissutvā yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ sāriputtaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho so puriso āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca:
“Yes, sir,” that man replied. He did as Anāthapiṇḍika asked.
– ‘Vâng, thưa ngài.’ Người đàn ông ấy vâng lời gia chủ Anāthapiṇḍika rồi đi đến chỗ của Tôn giả Sāriputta; sau khi đến, người ấy đảnh lễ Tôn giả Sāriputta rồi ngồi xuống một bên. Sau khi đã ngồi xuống một bên, người đàn ông ấy thưa với Tôn giả Sāriputta điều này:
– ‘Bạch ngài, gia chủ Anāthapiṇḍika đang bị bệnh, đau đớn, lâm trọng bệnh. Vị ấy xin cúi đầu đảnh lễ dưới chân Tôn giả Sāriputta. Và vị ấy có lời nhắn rằng: ‘Bạch ngài, lành thay, kính mong Tôn giả Sāriputta vì lòng bi mẫn mà đi đến nhà của gia chủ Anāthapiṇḍika.’’ Tôn giả Sāriputta đã nhận lời bằng sự im lặng.
Atha kho āyasmā sāriputto pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya āyasmatā ānandena pacchāsamaṇena yena anāthapiṇḍikassa gahapatissa nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Nisajja kho āyasmā sāriputto anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ etadavoca: “kacci te, gahapati, khamanīyaṁ kacci yāpanīyaṁ? Kacci dukkhā vedanā paṭikkamanti, no abhikkamanti; paṭikkamosānaṁ paññāyati, no abhikkamo”ti?
“Na me, bhante, khamanīyaṁ, na yāpanīyaṁ. Bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti, no paṭikkamanti; abhikkamosānaṁ paññāyati, no paṭikkamo”ti.
Then Venerable Sāriputta robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went with Venerable Ānanda as his second monk to Anāthapiṇḍika’s home. He sat down on the seat spread out and said to Anāthapiṇḍika, “I hope you’re keeping well, householder; I hope you’re all right. I hope your pain is fading, not growing; that its fading is evident, not its growing.”
“Sir, I’m not keeping well, I’m not getting by. My pain is terrible and growing, not fading; its growing is evident, not its fading.”
Bấy giờ, vào buổi sáng, Tôn giả Sāriputta đắp y, mang bát, cùng với Tôn giả Ānanda đi theo sau, đã đi đến nhà của gia chủ Anāthapiṇḍika; sau khi đến, ngài ngồi xuống trên chỗ đã được soạn sẵn. Sau khi đã ngồi, Tôn giả Sāriputta nói với gia chủ Anāthapiṇḍika điều này: – ‘Này gia chủ, ông có khỏe không, có chịu đựng được không? Các cảm thọ đau đớn có thuyên giảm, không tăng lên chứ? Sự thuyên giảm có được nhận thấy, không phải là sự tăng lên chứ?’ – ‘Bạch ngài, con không khỏe, không chịu đựng được. Các cảm thọ đau đớn mãnh liệt của con đang tăng lên, không thuyên giảm; sự tăng lên được nhận thấy, không phải là sự thuyên giảm.’
“Yathārūpena kho, gahapati, buddhe appasādena samannāgato assutavā puthujjano kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati tathārūpo te buddhe appasādo natthi. Atthi ca kho te, gahapati, buddhe aveccappasādo—itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti. Tañca pana te buddhe aveccappasādaṁ attani samanupassato ṭhānaso vedanā paṭippassambheyya.
“Householder, you don’t have the distrust in the Buddha that causes an unlearned ordinary person to be reborn—when their body breaks up, after death—in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. And you have experiential confidence in the Buddha: ‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’ Seeing in yourself that experiential confidence in the Buddha, that pain may die down on the spot.
– ‘Này gia chủ, kẻ phàm phu vô văn nào có lòng bất tín đối với Đức Phật, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Ông không có lòng bất tín như vậy đối với Đức Phật. Trái lại, này gia chủ, ông có niềm tin bất động đối với Đức Phật rằng: ‘Đức Thế Tôn là bậc... Thiên Nhân Sư, là Phật, là Thế Tôn.’ Và khi ông quán xét nơi tự thân về niềm tin bất động ấy đối với Đức Phật, các cảm thọ sẽ được lắng dịu ngay lập tức.
Yathārūpena kho, gahapati, dhamme appasādena samannāgato assutavā puthujjano kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati, tathārūpo te dhamme appasādo natthi. Atthi ca kho te, gahapati, dhamme aveccappasādo—svākkhāto bhagavatā dhammo …pe… paccattaṁ veditabbo viññūhīti. Tañca pana te dhamme aveccappasādaṁ attani samanupassato ṭhānaso vedanā paṭippassambheyya.
You don’t have the distrust in the teaching that causes an unlearned ordinary person to be reborn—when their body breaks up, after death—in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. And you have experiential confidence in the teaching: ‘The teaching is well explained by the Buddha—apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves.’ Seeing in yourself that experiential confidence in the teaching, that pain may die down on the spot.
– ‘Này gia chủ, kẻ phàm phu vô văn nào có lòng bất tín đối với Pháp, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Ông không có lòng bất tín như vậy đối với Pháp. Trái lại, này gia chủ, ông có niềm tin bất động đối với Pháp rằng: ‘Pháp đã được Đức Thế Tôn khéo thuyết giảng... được người trí tự mình chứng ngộ.’ Và khi ông quán xét nơi tự thân về niềm tin bất động ấy đối với Pháp, các cảm thọ sẽ được lắng dịu ngay lập tức.
Yathārūpena kho, gahapati, saṅghe appasādena samannāgato assutavā puthujjano kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati, tathārūpo te saṅghe appasādo natthi. Atthi ca kho te, gahapati, saṅghe aveccappasādo—suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho …pe… anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassāti. Tañca pana te saṅghe aveccappasādaṁ attani samanupassato ṭhānaso vedanā paṭippassambheyya.
You don’t have the distrust in the Saṅgha that causes an unlearned ordinary person to be reborn—when their body breaks up, after death—in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. And you have experiential confidence in the Saṅgha: ‘The Saṅgha of the Buddha’s disciples is practicing the way that’s good, direct, systematic, and proper. It consists of the four pairs, the eight individual persons. This Saṅgha of the Buddha’s disciples is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, and worthy of veneration with cupped palms. It is the supreme field of merit for the world.’ Seeing in yourself that experiential confidence in the Saṅgha, that pain may die down on the spot.
– ‘Này gia chủ, kẻ phàm phu vô văn nào có lòng bất tín đối với Tăng, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Ông không có lòng bất tín như vậy đối với Tăng. Trái lại, này gia chủ, ông có niềm tin bất động đối với Tăng rằng: ‘Chúng đệ tử của Đức Thế Tôn là bậc diệu hạnh... là phước điền vô thượng ở đời.’ Và khi ông quán xét nơi tự thân về niềm tin bất động ấy đối với Tăng, các cảm thọ sẽ được lắng dịu ngay lập tức.
Yathārūpena kho, gahapati, dussīlyena samannāgato assutavā puthujjano kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati, tathārūpaṁ te dussīlyaṁ natthi. Atthi ca kho te, gahapati, ariyakantāni sīlāni … pe samādhisaṁvattanikāni. Tāni ca pana te ariyakantāni sīlāni attani samanupassato ṭhānaso vedanā paṭippassambheyya.
You don’t have the unethical conduct that causes an unlearned ordinary person to be reborn—when their body breaks up, after death—in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. Your ethical conduct is loved by the noble ones, unbroken, impeccable, spotless, and unmarred, liberating, praised by sensible people, not mistaken, and leading to immersion. Seeing in yourself that ethical conduct loved by the noble ones, that pain may die down on the spot.
– ‘Này gia chủ, kẻ phàm phu vô văn nào có ác giới, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Ông không có ác giới như vậy. Trái lại, này gia chủ, ông có các giới được bậc Thánh yêu mến... đưa đến định. Và khi ông quán xét nơi tự thân về các giới được bậc Thánh yêu mến ấy, các cảm thọ sẽ được lắng dịu ngay lập tức.
Yathārūpāya kho, gahapati, micchādiṭṭhiyā samannāgato assutavā puthujjano kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati, tathārūpā te micchādiṭṭhi natthi. Atthi ca kho te, gahapati, sammādiṭṭhi. Tañca pana te sammādiṭṭhiṁ attani samanupassato ṭhānaso vedanā paṭippassambheyya.
You don’t have the wrong view that causes an unlearned ordinary person to be reborn—when their body breaks up, after death—in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. You have right view. Seeing in yourself that right view, that pain may die down on the spot.
– ‘Này gia chủ, kẻ phàm phu vô văn nào có tà kiến, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Ông không có tà kiến như vậy. Trái lại, này gia chủ, ông có chánh kiến. Và khi ông quán xét nơi tự thân về chánh kiến ấy, các cảm thọ sẽ được lắng dịu ngay lập tức.
Yathārūpena kho, gahapati, micchāsaṅkappena samannāgato assutavā puthujjano kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati, tathārūpo te micchāsaṅkappo natthi. Atthi ca kho te, gahapati, sammāsaṅkappo. Tañca pana te sammāsaṅkappaṁ attani samanupassato ṭhānaso vedanā paṭippassambheyya.
You don’t have the wrong purpose …
– ‘Này gia chủ, kẻ phàm phu vô văn nào có tà tư duy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Ông không có tà tư duy như vậy. Trái lại, này gia chủ, ông có chánh tư duy. Và khi ông quán xét nơi tự thân về chánh tư duy ấy, các cảm thọ sẽ được lắng dịu ngay lập tức.
Yathārūpāya kho, gahapati, micchāvācāya samannāgato assutavā puthujjano kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati, tathārūpā te micchāvācā natthi. Atthi ca kho te, gahapati, sammāvācā. Tañca pana te sammāvācaṁ attani samanupassato ṭhānaso vedanā paṭippassambheyya.
wrong speech …
Này gia chủ, kẻ phàm phu ít nghe, có tà ngữ như thế nào, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, thì tà ngữ như thế ấy không có nơi ông. Này gia chủ, ông chỉ có chánh ngữ. Và khi ông quán xét chánh ngữ ấy nơi tự thân, các cảm thọ sẽ được lắng dịu ngay lập tức.
Yathārūpena kho, gahapati, micchākammantena samannāgato assutavā puthujjano kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati, tathārūpo te micchākammanto natthi. Atthi ca kho te, gahapati, sammākammanto. Tañca pana te sammākammantaṁ attani samanupassato ṭhānaso vedanā paṭippassambheyya.
wrong action …
Này gia chủ, kẻ phàm phu ít nghe, có tà nghiệp như thế nào, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, thì tà nghiệp như thế ấy không có nơi ông. Này gia chủ, ông chỉ có chánh nghiệp. Và khi ông quán xét chánh nghiệp ấy nơi tự thân, các cảm thọ sẽ được lắng dịu ngay lập tức.
Yathārūpena kho, gahapati, micchāājīvena samannāgato assutavā puthujjano kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati, tathārūpo te micchāājīvo natthi. Atthi ca kho te, gahapati, sammāājīvo. Tañca pana te sammāājīvaṁ attani samanupassato ṭhānaso vedanā paṭippassambheyya.
wrong livelihood …
Này gia chủ, kẻ phàm phu ít nghe, có tà mạng như thế nào, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, thì tà mạng như thế ấy không có nơi ông. Này gia chủ, ông chỉ có chánh mạng. Và khi ông quán xét chánh mạng ấy nơi tự thân, các cảm thọ sẽ được lắng dịu ngay lập tức.
Yathārūpena kho, gahapati, micchāvāyāmena samannāgato assutavā puthujjano kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati, tathārūpo te micchāvāyāmo natthi. Atthi ca kho te, gahapati, sammāvāyāmo. Tañca pana te sammāvāyāmaṁ attani samanupassato ṭhānaso vedanā paṭippassambheyya.
wrong effort …
Này gia chủ, kẻ phàm phu ít nghe, có tà tinh tấn như thế nào, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, thì tà tinh tấn như thế ấy không có nơi ông. Này gia chủ, ông chỉ có chánh tinh tấn. Và khi ông quán xét chánh tinh tấn ấy nơi tự thân, các cảm thọ sẽ được lắng dịu ngay lập tức.
Yathārūpāya kho, gahapati, micchāsatiyā samannāgato assutavā puthujjano kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati, tathārūpā te micchāsati natthi. Atthi ca kho te, gahapati, sammāsati. Tañca pana te sammāsatiṁ attani samanupassato ṭhānaso vedanā paṭippassambheyya.
wrong mindfulness …
Này gia chủ, kẻ phàm phu ít nghe, có tà niệm như thế nào, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, thì tà niệm như thế ấy không có nơi ông. Này gia chủ, ông chỉ có chánh niệm. Và khi ông quán xét chánh niệm ấy nơi tự thân, các cảm thọ sẽ được lắng dịu ngay lập tức.
Yathārūpena kho, gahapati, micchāsamādhinā samannāgato assutavā puthujjano kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati, tathārūpo te micchāsamādhi natthi. Atthi ca kho te, gahapati, sammāsamādhi. Tañca pana te sammāsamādhiṁ attani samanupassato ṭhānaso vedanā paṭippassambheyya.
wrong immersion …
Này gia chủ, kẻ phàm phu ít nghe, có tà định như thế nào, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, thì tà định như thế ấy không có nơi ông. Này gia chủ, ông chỉ có chánh định. Và khi ông quán xét chánh định ấy nơi tự thân, các cảm thọ sẽ được lắng dịu ngay lập tức.
Yathārūpena kho, gahapati, micchāñāṇena samannāgato assutavā puthujjano kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati, tathārūpaṁ te micchāñāṇaṁ natthi. Atthi ca kho te, gahapati, sammāñāṇaṁ. Tañca pana te sammāñāṇaṁ attani samanupassato ṭhānaso vedanā paṭippassambheyya.
wrong knowledge …
Này gia chủ, kẻ phàm phu ít nghe, có tà trí như thế nào, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, thì tà trí như thế ấy không có nơi ông. Này gia chủ, ông chỉ có chánh trí. Và khi ông quán xét chánh trí ấy nơi tự thân, các cảm thọ sẽ được lắng dịu ngay lập tức.
Yathārūpāya kho, gahapati, micchāvimuttiyā samannāgato assutavā puthujjano kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati, tathārūpā te micchāvimutti natthi. Atthi ca kho te, gahapati, sammāvimutti. Tañca pana te sammāvimuttiṁ attani samanupassato ṭhānaso vedanā paṭippassambheyyā”ti.
wrong freedom … You have right freedom. Seeing in yourself that right freedom, that pain may die down on the spot.”
Này gia chủ, kẻ phàm phu ít nghe, có tà giải thoát như thế nào, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, thì tà giải thoát như thế ấy không có nơi ông. Này gia chủ, ông chỉ có chánh giải thoát. Và khi ông quán xét chánh giải thoát ấy nơi tự thân, các cảm thọ sẽ được lắng dịu ngay lập tức.
Atha kho anāthapiṇḍikassa gahapatissa ṭhānaso vedanā paṭippassambhiṁsu. Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati āyasmantañca sāriputtaṁ āyasmantañca ānandaṁ sakeneva thālipākena parivisi. Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati āyasmantaṁ sāriputtaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ aññataraṁ nīcāsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ āyasmā sāriputto imāhi gāthāhi anumodi:
And then Anāthapiṇḍika’s pain died down on the spot. Then he served Sāriputta and Ānanda from his own dish. When Sāriputta had eaten and washed his hand and bowl, Anāthapiṇḍika took a low seat and sat to one side. Venerable Sāriputta expressed his appreciation to him with these verses.
Bấy giờ, các cảm thọ của gia chủ Anāthapiṇḍika được lắng dịu ngay lập tức. Rồi gia chủ Anāthapiṇḍika đã dọn mời Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Ānanda dùng chính phần cơm trong nồi của mình. Sau đó, khi Tôn giả Sāriputta đã dùng xong, tay đã rời khỏi bát, gia chủ Anāthapiṇḍika lấy một chiếc ghế thấp rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Sāriputta đã tùy hỷ cho gia chủ Anāthapiṇḍika đang ngồi một bên bằng những câu kệ này:
“Yassa saddhā tathāgate, acalā suppatiṭṭhitā; Sīlañca yassa kalyāṇaṁ, ariyakantaṁ pasaṁsitaṁ.
“Whoever has faith in the Realized One, unwavering and well grounded; whose ethical conduct is good, praised and loved by the noble ones;
Vị nào có niềm tin nơi Như Lai, không lay chuyển, khéo an trú; và có giới đức tốt lành, được bậc Thánh ái mộ, tán thán.
Saṅghe pasādo yassatthi, ujubhūtañca dassanaṁ; Adaliddoti taṁ āhu, amoghaṁ tassa jīvitaṁ.
who has confidence in the Saṅgha, and correct view: they’re said to be prosperous, their life is not in vain.
Vị nào có lòng tịnh tín nơi Tăng đoàn, và có tri kiến ngay thẳng; vị ấy được gọi là không nghèo khó, đời sống của vị ấy không vô ích.
Tasmā saddhañca sīlañca, pasādaṁ dhammadassanaṁ; Anuyuñjetha medhāvī, saraṁ buddhānasāsanan”ti.
So let the wise devote themselves to faith, ethical behaviour, confidence, and insight into the teaching, remembering the instructions of the Buddhas.”
Do vậy, bậc trí tuệ nên chuyên tâm vào niềm tin, giới đức, lòng tịnh tín, và sự thấy Pháp, trong khi ghi nhớ lời giáo huấn của chư Phật.
Atha kho āyasmā sāriputto anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ imāhi gāthāhi anumoditvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
After expressing his appreciation to Anāthapiṇḍika with these verses, Sāriputta rose from his seat and left.
Sau đó, Tôn giả Sāriputta, sau khi tùy hỷ cho gia chủ Anāthapiṇḍika bằng những câu kệ này, đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ ānandaṁ bhagavā etadavoca: “handa kuto nu tvaṁ, ānanda, āgacchasi divādivassā”ti?
“Āyasmatā, bhante, sāriputtena anāthapiṇḍiko gahapati iminā ca iminā ca ovādena ovadito”ti.
“Paṇḍito, ānanda, sāriputto; mahāpañño, ānanda, sāriputto, yatra hi nāma cattāri sotāpattiyaṅgāni dasahākārehi vibhajissatī”ti.
Chaṭṭhaṁ.
Then Ānanda went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him, “So, Ānanda, where are you coming from in the middle of the day?”
“Sir, Venerable Sāriputta advised the householder Anāthapiṇḍika in this way and that.”
“Sāriputta is astute, Ānanda. He has great wisdom, since he can analyze the four factors of stream-entry in ten respects.”
Sau đó, Tôn giả Ānanda đi đến nơi Thế Tôn ở; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Ānanda đang ngồi một bên: "Này Ānanda, sao ông lại đến vào lúc ban ngày thế này?" "Bạch Thế Tôn, Tôn giả Sāriputta đã giáo giới cho gia chủ Anāthapiṇḍika bằng lời giáo huấn như thế này, như thế này." "Này Ānanda, Sāriputta là bậc hiền trí! Này Ānanda, Sāriputta là bậc đại tuệ! Vì rằng bốn dự lưu chi đã được vị ấy phân tích theo mười phương diện." Hết phẩm thứ sáu.