- Saṁyutta Nikāya 55.27
- 3. Saraṇānivagga
Bản dịch
SN 55.27 — Kinh Anāthapiṇḍika thứ hai
Dutiyaanāthapiṇḍikasutta
Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, gia chủ Anāthapiṇḍika bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh.
Vi-n 3-5. … (giống như kinh trước, chỉ khác, đây là Tôn giả Ānanda chứ không phải Tôn giả Sāriputta, và Tôn giả Ānanda đi chỉ có một mình, cho đến … có dấu hiệu tăng trưởng, không có giảm thiểu).
Vi-n 6 —Này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu thành tựu bốn pháp nên run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau. Thế nào là bốn?
Vi-n 7 Ở đây, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu thành tựu lòng bất tín đối với Phật. Khi vị ấy tự thấy lòng bất tín của mình đối với Phật, vị ấy run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau. Lại nữa, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu thành tựu lòng bất tín đối với Pháp. Khi vị ấy tự thấy lòng bất tín của mình đối với Pháp; vị ấy run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau. Lại nữa, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu thành tựu lòng bất tín đối với chúng Tăng. Khi vị ấy tự thấy lòng bất tín của mình đối với chúng Tăng; vị ấy run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau. Lại nữa, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu thành tựu ác giới. Khi vị ấy tự thấy sự thành tựu ác giới của mình; vị ấy run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau. Do thành tựu bốn pháp này, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau.
Vi-n 8 Do thành tựu bốn pháp, này Gia chủ, vị Ða văn Thánh đệ tử không có run sợ, không có hoảng hốt, không có sợ hãi về cái chết, về đời sau. Thế nào là bốn? Ở đây, này Gia chủ, vị Ða văn Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với Phật: “Ðây là là bậc Ứng Cúng, … Phật, Thế Tôn”. Khi tự thấy lòng tịnh tín bất động của mình đối với Phật, vị ấy không run sợ, không hoảng hốt, không sợ hãi về cái chết, về đời sau. Lại nữa, này Gia chủ, vị Ða văn Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Pháp: “Pháp được Thế Tôn khéo thuyết … chỉ người có trí tự mình giác hiểu”. Khi tự thấy lòng tịnh tín bất động của mình đối với Pháp, vị ấy không run sợ, không hoảng hốt, không sợ hãi về cái chết, về đời sau. Lại nữa, này Gia chủ … lòng tịnh tín bất động đối với chúng Tăng: “Diệu hạnh là đệ tử của Thế Tôn … là phước điền vô thượng ở đời” … về đời sau. Lại nữa, này Gia chủ, vị Ða văn Thánh đệ tử thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính … đưa đến Thiền định. Khi tự thấy sự thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính của mình, vị ấy không run sợ, không hoảng hốt, không sợ hãi về cái chết, về đời sau. Thành tựu bốn pháp này, này Gia chủ, bậc Ða văn Thánh đệ tử không có run sợ, không có hoảng hốt, không sợ hãi về cái chết, về đời sau.
Vi-n 9 —Thưa Tôn giả Ānanda, con không sợ hãi. Sao con có thể sợ hãi? Con đã thành tựu lòng tịnh tín đối với Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng … Phật, Thế Tôn” … đối với Pháp … đối với chúng Tăng … thưa Tôn giả, phàm có những học giới hòa kính (sàmici) tại gia do Thế Tôn thuyết giảng, con thấy không có tự mình vi phạm một giới nào.
Vi-n 10 —Lợi đắc thay cho Gia chủ, này Gia chủ! Khéo lợi đắc thay cho Gia chủ, này Gia chủ! Gia chủ đã tuyên bố về Dự lưu quả rồi.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 55.27
- 3. About Sarakāni
With Anāthapiṇḍika (2nd)
7. Kinh Anāthapiṇḍika thứ hai
Sāvatthinidānaṁ.
Tena kho pana samayena anāthapiṇḍiko gahapati ābādhiko hoti dukkhito bāḷhagilāno. Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati aññataraṁ purisaṁ āmantesi: “ehi tvaṁ, ambho purisa, yenāyasmā ānando tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā mama vacanena āyasmato ānandassa pāde sirasā vanda: ‘anāthapiṇḍiko, bhante, gahapati ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno. So āyasmato ānandassa pāde sirasā vandatī’ti. Evañca vadehi: ‘sādhu kira, bhante, āyasmā ānando yena anāthapiṇḍikassa gahapatissa nivesanaṁ tenupasaṅkamatu anukampaṁ upādāyā’”ti.
At Sāvatthī.
Now at that time the householder Anāthapiṇḍika was sick, suffering, gravely ill. Then he addressed a man, “Please, my man, go to Venerable Ānanda, and in my name bow with your head to his feet. Say to him: ‘Sir, the householder Anāthapiṇḍika is sick, suffering, gravely ill. He bows with his head to your feet.’ And then say: ‘Sir, please visit him at his home out of sympathy.’”
1023. Nhân duyên ở Sāvatthī. Bấy giờ, gia chủ Anāthapiṇḍika bị bệnh, đau đớn, lâm trọng bệnh. Rồi gia chủ Anāthapiṇḍika gọi một người đàn ông bảo rằng: – ‘Này người kia, ngươi hãy đi đến chỗ Tôn giả Ānanda; sau khi đến, nhân danh ta, hãy cúi đầu đảnh lễ dưới chân Tôn giả Ānanda và thưa rằng: ‘Bạch ngài, gia chủ Anāthapiṇḍika bị bệnh, đau đớn, lâm trọng bệnh. Vị ấy xin cúi đầu đảnh lễ dưới chân Tôn giả Ānanda.’ Và hãy thưa thêm như vầy: ‘Bạch ngài, lành thay, mong Tôn giả Ānanda vì lòng bi mẫn, hãy đi đến nhà của gia chủ Anāthapiṇḍika.’”
“Evaṁ, bhante”ti kho so puriso anāthapiṇḍikassa gahapatissa paṭissutvā yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho so puriso āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca: “anāthapiṇḍiko, bhante, gahapati ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno. So āyasmato ānandassa pāde sirasā vandati. Evañca vadati: ‘sādhu kira, bhante, āyasmā ānando yena anāthapiṇḍikassa gahapatissa nivesanaṁ tenupasaṅkamatu anukampaṁ upādāyā’”ti. Adhivāsesi kho āyasmā ānando tuṇhībhāvena.
“Yes, sir,” that man replied. He did as Anāthapiṇḍika asked. Ānanda consented with silence.
– ‘Thưa vâng, bạch ngài.’ Người đàn ông ấy vâng lời gia chủ Anāthapiṇḍika rồi đi đến chỗ Tôn giả Ānanda; sau khi đến, đã đảnh lễ Tôn giả Ānanda rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, người đàn ông ấy thưa với Tôn giả Ānanda điều này: – ‘Bạch ngài, gia chủ Anāthapiṇḍika bị bệnh, đau đớn, lâm trọng bệnh. Vị ấy xin cúi đầu đảnh lễ dưới chân Tôn giả Ānanda. Và vị ấy thưa thêm như vầy: ‘Bạch ngài, lành thay, mong Tôn giả Ānanda vì lòng bi mẫn, hãy đi đến nhà của gia chủ Anāthapiṇḍika.’’ Tôn giả Ānanda đã im lặng nhận lời.
Atha kho āyasmā ānando pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena anāthapiṇḍikassa gahapatissa nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Nisajja kho āyasmā ānando anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ etadavoca: “kacci te, gahapati, khamanīyaṁ, kacci yāpanīyaṁ? Kacci dukkhā vedanā paṭikkamanti, no abhikkamanti; paṭikkamosānaṁ paññāyati, no abhikkamo”ti?
“Na me, bhante, khamanīyaṁ na yāpanīyaṁ. Bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti, no paṭikkamanti; abhikkamosānaṁ paññāyati, no paṭikkamo”ti.
Then Venerable Ānanda robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to the home of the householder Anāthapiṇḍika. He sat down on the seat spread out and said to Anāthapiṇḍika, “I hope you’re keeping well, householder, I hope you’re all right. I hope your pain is fading, not growing; that its fading is evident, not its growing.”
“Sir, I’m not keeping well, I’m not getting by. My pain is terrible and growing, not fading; its growing is evident, not its fading.”
Rồi Tôn giả Ānanda, vào buổi sáng, sau khi đắp y, đã cầm y bát và đi đến nhà của gia chủ Anāthapiṇḍika; sau khi đến, đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được soạn sẵn. Sau khi ngồi xuống, Tôn giả Ānanda nói với gia chủ Anāthapiṇḍika điều này: – ‘Này gia chủ, ông có kham nhẫn được không, có chịu đựng được không? Các cảm thọ đau đớn có thuyên giảm, không gia tăng chứ? Sự thuyên giảm của chúng có được nhận thấy, không phải là sự gia tăng chứ?’ – ‘Bạch ngài, con không kham nhẫn được, không chịu đựng được. Các cảm thọ đau đớn mãnh liệt của con đang gia tăng, không thuyên giảm. Sự gia tăng của chúng được nhận thấy, không phải là sự thuyên giảm.’
“Catūhi kho, gahapati, dhammehi samannāgatassa assutavato puthujjanassa hoti uttāso, hoti chambhitattaṁ, hoti samparāyikaṁ maraṇabhayaṁ. Katamehi catūhi? Idha, gahapati, assutavā puthujjano buddhe appasādena samannāgato hoti. Tañca panassa buddhe appasādaṁ attani samanupassato hoti uttāso, hoti chambhitattaṁ, hoti samparāyikaṁ maraṇabhayaṁ.
“Householder, when an unlearned ordinary person has four things, they’re frightened and terrified, and fear what awaits them after death. What four? Firstly, an unlearned ordinary person distrusts the Buddha. Seeing in themselves that distrust of the Buddha, they’re frightened and terrified, and fear what awaits them after death.
– ‘Này gia chủ, đối với kẻ phàm phu ít nghe, người có bốn pháp này sẽ có sự kinh hãi, có sự run sợ, có sự sợ hãi cái chết liên quan đến đời sau. Bốn pháp nào? Này gia chủ, ở đây, kẻ phàm phu ít nghe là người có lòng không trong sạch đối với Đức Phật. Và khi tự mình nhận thấy rõ lòng không trong sạch đối với Đức Phật ấy, người ấy có sự kinh hãi, có sự run sợ, có sự sợ hãi cái chết liên quan đến đời sau.
Puna caparaṁ, gahapati, assutavā puthujjano dhamme appasādena samannāgato hoti. Tañca panassa dhamme appasādaṁ attani samanupassato hoti uttāso, hoti chambhitattaṁ, hoti samparāyikaṁ maraṇabhayaṁ.
Furthermore, an unlearned ordinary person distrusts the teaching …
Lại nữa, này gia chủ, kẻ phàm phu ít nghe là người có lòng không trong sạch đối với Pháp. Và khi tự mình nhận thấy rõ lòng không trong sạch đối với Pháp ấy, người ấy có sự kinh hãi, có sự run sợ, có sự sợ hãi cái chết liên quan đến đời sau.
Puna caparaṁ, gahapati, assutavā puthujjano saṅghe appasādena samannāgato hoti. Tañca panassa saṅghe appasādaṁ attani samanupassato hoti uttāso, hoti chambhitattaṁ, hoti samparāyikaṁ maraṇabhayaṁ.
Furthermore, an unlearned ordinary person distrusts the Saṅgha …
Lại nữa, này gia chủ, kẻ phàm phu ít nghe là người có lòng không trong sạch đối với Tăng. Và khi tự mình nhận thấy rõ lòng không trong sạch đối với Tăng ấy, người ấy có sự kinh hãi, có sự run sợ, có sự sợ hãi cái chết liên quan đến đời sau.
Puna caparaṁ, gahapati, assutavā puthujjano dussīlyena samannāgato hoti. Tañca panassa dussīlyaṁ attani samanupassato hoti uttāso, hoti chambhitattaṁ, hoti samparāyikaṁ maraṇabhayaṁ. Imehi kho, gahapati, catūhi dhammehi samannāgatassa assutavato puthujjanassa hoti uttāso, hoti chambhitattaṁ, hoti samparāyikaṁ maraṇabhayaṁ.
Furthermore, an unlearned ordinary person has unethical conduct. Seeing in themselves that unethical conduct, they’re frightened and terrified, and fear what awaits them after death. When an unlearned ordinary person has these four things, they’re frightened and terrified, and fear what awaits them after death.
Lại nữa, này gia chủ, kẻ phàm phu ít nghe là người có ác giới. Và khi tự mình nhận thấy rõ ác giới ấy, người ấy có sự kinh hãi, có sự run sợ, có sự sợ hãi cái chết liên quan đến đời sau. Này gia chủ, chính do có bốn pháp này mà kẻ phàm phu ít nghe có sự kinh hãi, có sự run sợ, có sự sợ hãi cái chết liên quan đến đời sau.
Catūhi kho, gahapati, dhammehi samannāgatassa sutavato ariyasāvakassa na hoti uttāso, na hoti chambhitattaṁ, na hoti samparāyikaṁ maraṇabhayaṁ. Katamehi catūhi? Idha, gahapati, sutavā ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti—itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti. Tañca panassa buddhe aveccappasādaṁ attani samanupassato na hoti uttāso, na hoti chambhitattaṁ, na hoti samparāyikaṁ maraṇabhayaṁ.
When a learned noble disciple has four things, they’re not frightened or terrified, and don’t fear what awaits them after death. What four? Firstly, a noble disciple has experiential confidence in the Buddha … Seeing in themselves that experiential confidence in the Buddha, they’re not frightened or terrified, and don’t fear what awaits them after death.
Này gia chủ, đối với vị Thánh đệ tử có nghe nhiều, người có bốn pháp này sẽ không có sự kinh hãi, không có sự run sợ, không có sự sợ hãi cái chết liên quan đến đời sau. Bốn pháp nào? Này gia chủ, ở đây, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều là người có lòng tịnh tín bất động đối với Đức Phật: ‘Đức Thế Tôn là như vậy... là bậc Thiên Nhân Sư, là bậc Giác Ngộ, là Đức Thế Tôn.’ Và khi tự mình nhận thấy rõ lòng tịnh tín bất động đối với Đức Phật ấy, người ấy không có sự kinh hãi, không có sự run sợ, không có sự sợ hãi cái chết liên quan đến đời sau.
Puna caparaṁ, gahapati, sutavā ariyasāvako dhamme aveccappasādena samannāgato hoti—svākkhāto bhagavatā dhammo …pe… paccattaṁ veditabbo viññūhīti. Tañca panassa dhamme aveccappasādaṁ attani samanupassato na hoti uttāso, na hoti chambhitattaṁ, na hoti samparāyikaṁ maraṇabhayaṁ.
Furthermore, a noble disciple has experiential confidence in the teaching …
Lại nữa, này gia chủ, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều là người có lòng tịnh tín bất động đối với Pháp: ‘Pháp đã được Đức Thế Tôn khéo thuyết giảng... được người trí tự mình chứng ngộ.’ Và khi tự mình nhận thấy rõ lòng tịnh tín bất động đối với Pháp ấy, người ấy không có sự kinh hãi, không có sự run sợ, không có sự sợ hãi cái chết liên quan đến đời sau.
Puna caparaṁ, gahapati, sutavā ariyasāvako saṅghe aveccappasādena samannāgato hoti—suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho …pe… anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassāti. Tañca panassa saṅghe aveccappasādaṁ attani samanupassato na hoti uttāso, na hoti chambhitattaṁ, na hoti samparāyikaṁ maraṇabhayaṁ.
Furthermore, a noble disciple has experiential confidence in the Saṅgha …
Lại nữa, này gia chủ, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều là người có lòng tịnh tín bất động đối với Tăng: ‘Tăng chúng đệ tử của Đức Thế Tôn là những người diệu hạnh... là phước điền vô thượng ở đời.’ Và khi tự mình nhận thấy rõ lòng tịnh tín bất động đối với Tăng ấy, người ấy không có sự kinh hãi, không có sự run sợ, không có sự sợ hãi cái chết liên quan đến đời sau.
Puna caparaṁ, gahapati, sutavā ariyasāvako ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi …pe… samādhisaṁvattanikehi. Tāni ca panassa ariyakantāni sīlāni attani samanupassato na hoti uttāso, na hoti chambhitattaṁ, na hoti samparāyikaṁ maraṇabhayaṁ.
Imehi kho, gahapati, catūhi dhammehi samannāgatassa sutavato ariyasāvakassa na hoti uttāso, na hoti chambhitattaṁ, na hoti samparāyikaṁ maraṇabhayan”ti.
Furthermore, a noble disciple’s ethical conduct is loved by the noble ones, unbroken, impeccable, spotless, and unmarred, liberating, praised by sensible people, not mistaken, and leading to immersion. Seeing in themselves that ethical conduct loved by the noble ones, they’re not frightened or terrified, and don’t fear what awaits them after death.
When a learned noble disciple has these four things, they’re not frightened or terrified, and don’t fear what awaits them after death.”
“Lại nữa, này gia chủ, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều, thành tựu các giới được các bậc Thánh ái mộ, không bị sứt mẻ... cho đến... đưa đến định. Và khi vị ấy quán xét trong tự thân các giới được các bậc Thánh ái mộ ấy, sự kinh hãi không khởi lên, sự run rẩy không khởi lên, sự sợ hãi cái chết liên quan đến đời sau không khởi lên. Này gia chủ, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều, thành tựu bốn pháp này, sự kinh hãi không khởi lên, sự run rẩy không khởi lên, sự sợ hãi cái chết liên quan đến đời sau không khởi lên.”
“Nāhaṁ, bhante ānanda, bhāyāmi. Kyāhaṁ bhāyissāmi. Ahañhi, bhante, buddhe aveccappasādena samannāgato homi—itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti. Dhamme …pe… saṅghe aveccappasādena samannāgato homi—suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho …pe… anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassāti. Yāni cimāni, bhante, bhagavatā gihisāmīcikāni sikkhāpadāni desitāni, nāhaṁ tesaṁ kiñci attani khaṇḍaṁ samanupassāmī”ti.
“Lābhā te, gahapati, suladdhaṁ te, gahapati. Sotāpattiphalaṁ tayā, gahapati, byākatan”ti.
Sattamaṁ.
“Honorable Ānanda, I am not afraid. What have I to fear? For I have experiential confidence in the Buddha … the teaching … the Saṅgha … And of the training rules appropriate for laypeople taught by the Buddha, I don’t see any that I have broken.”
“You’re fortunate, householder, so very fortunate! You have declared the fruit of stream-entry.”
“Bạch ngài Ānanda, con không sợ hãi. Tại sao con phải sợ hãi! Bạch ngài, con thành tựu niềm tin bất động đối với đức Phật: ‘Đức Thế Tôn là như vậy... cho đến... là bậc Thiên Nhân Sư, là Phật, là Thế Tôn.’ ... đối với Pháp... con thành tựu niềm tin bất động đối với Tăng: ‘Chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn là bậc diệu hạnh... cho đến... là ruộng phước vô thượng ở đời.’ Bạch ngài, những học giới nào được Thế Tôn thuyết giảng thích hợp cho hàng tại gia, con không thấy mình vi phạm bất cứ điều nào trong số đó.” “Lành thay cho ông, này gia chủ! Lành thay cho ông, này gia chủ! Này gia chủ, ông đã tuyên bố quả Dự Lưu.” Kinh thứ bảy.