- Saṁyutta Nikāya 55.24
- 3. Saraṇānivagga
Bản dịch
SN 55.24 — Kinh Saraṇāni Dòng Sakya Thứ Nhất
Paṭhamasaraṇānisakkasutta
Vi-n 1 Nhân duyên ở Kapilavatthu.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, họ Thích Sarakàni mệnh chung và được Thế Tôn tuyên bố là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chứng quả giác ngộ.
Vi-n 3 Tại đấy, một số đông họ Thích tụ họp lại với nhau, chỉ trích, phê bình, bàn tán: “Thật là lạ lùng! Thật là hy hữu! Ngày nay ai cũng có thể thành bậc Dự lưu, vì rằng họ Thích Sarakàni đã mệnh chung, được Thế Tôn tuyên bố là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ. Họ Thích Sarakàni đã phạm giới và uống rượu”.
Vi-n 4 Rồi họ Thích Mahānāma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, họ Thích Mahānāma bạch Thế Tôn:
Vi-n 5 —Ở đây, bạch Thế Tôn, họ Thích Sarakàni đã mệnh chung và được Thế Tôn tuyên bố là bậc Dự lưu … chứng quả giác ngộ. Ở đây, bạch Thế Tôn, một số đông họ Thích khi tụ tập lại với nhau, chỉ trích, phê bình, bàn tán: “Thật là lạ lùng! Thật là hy hữu! … Họ Thích Sarakàni đã phạm giới và uống rượu”
—Này Mahānāma, một cư sĩ lâu ngày qui y Phật, qui y Pháp, qui y Tăng làm sao có thể đi đến đọa xứ được?
Vi-n 6 Này Mahānāma, nếu nói một cách chơn chánh: Người cư sĩ nào đã lâu ngày qui y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, nói một cách chơn chánh phải nói là họ Thích Sarakàni. Này Mahānāma, họ Thích Sarakàni đã lâu ngày quy y Phật, quy y Pháp, qui y Tăng, làm sao có thể đi đến đọa xứ?
Vi-n 7 Ở đây, này Mahānāma, có người thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng, … Phật, Thế Tôn” … đối với Pháp … đối với chúng Tăng, có trí tuệ hoan hỷ (hàsapanna), có trí tuệ tốc hành và thành tựu giải thoát. Vị ấy do đoạn tận các lậu hoặc ngay trong hiện tại với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Người này, này Mahānāma, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sanh, được giải thoát khỏi cõi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ.
Vi-n 8 Ở đây, này Mahānāma, có người thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật. “Ðây là là bậc Ứng Cúng, … Phật, Thế Tôn” … đối với Pháp … đối với chúng Tăng … có trí tuệ hoan hỷ, có trí tuệ tốc hành nhưng không thành tựu giải thoát. Vị ấy do đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, tại đấy nhập Niết-bàn, không còn trở lui thế giới này nữa. Người này, này Mahānāma, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sanh, được giải thoát khỏi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ.
Vi-n 9 Ở đây, này Mahānāma, có người thành tựu lòng tịnh tin đối với đức Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng … Phật, Thế Tôn” … đối với Pháp … đối với chúng Tăng … không có trí tuệ hoan hỷ, không có trí tuệ tốc hành, không thành tựu giải thoát. Vị ấy sau khi đoạn diệt ba kiết sử, sau khi làm cho muội lược tham, sân, thành bậc Nhất lai, chỉ trở lui đời này một lần nữa, đoạn tận khổ đau. Người này, này Mahānāma, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sanh, được giải thoát khỏi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ.
Vi-n 10 Ở đây, này Mahānāma, có người thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật … đối với Pháp … đối với chúng Tăng, không có trí tuệ hoan hỷ, không có trí tuệ tốc hành, không thành tựu giải thoát. Vị ấy sau khi đoạn diệt ba kiết sử, là bậc Dự lưu không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ. Người này, này Mahānāma, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sanh, được giải thoát khỏi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ.
Vi-n 11 Ở đây, này Mahānāma, có người không có lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật … đối với Pháp … đối với Tăng, không có trí tuệ hoan hỷ, không có trí tuệ tốc hành … không thành tựu giải thoát. Nhưng vị ấy có những pháp này: Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn và những pháp này do Như Lai tuyên bố được thiểu phần kham nhẫn quán sát với trí tuệ. Người này, này Mahānāma, không đi đến địa ngục, không đi đến loài bàng sanh, không đi đến cõi ngạ quỷ, không đi đến ác sanh, ác thú, đọa xứ.
Vi-n 12 Ở đây, này Mahānāma, có người không thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật, đối với pháp, đối với chúng Tăng, không có trí tuệ hoan hỷ, không có trí tuệ tốc hành, không thành tựu giải thoát. Nhưng vị ấy có những pháp này: Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn, chỉ có lòng tin, chỉ có lòng ái mộ ở Như Lai. Người này, này Mahānāma, không có đi đến địa ngục, không có đi đến loài bàng sanh, không có đi đến cõi ngạ quỷ, không có đi đến cõi dữ, ác thú, đọa xứ.
Vi-n 13 Nếu những cây ta-la lớn này, này Mahānāma, biết những gì là thiện thuyết, ác thuyết, thời Ta cũng sẽ tuyên bố những cây ấy là những bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ, huống nữa là họ Thích Sarakàni. Này Mahàanàma, họ Thích Sarakàni, sau khi mệnh chung, đã chấp nhận học giới.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 55.24
- 3. About Sarakāni
About Sarakāni (1st)
4. Kinh Saraṇāni Dòng Sakya Thứ Nhất
Kapilavatthunidānaṁ.
At Kapilavatthu.
1020. Nhân duyên ở Kapilavatthu. Bấy giờ, Saraṇāni dòng Sakya đã mệnh chung. Vị ấy được Thế Tôn tuyên bố: ‘Là bậc Dự lưu, không bị rơi vào đọa xứ, chắc chắn, hướng đến sự giác ngộ.’ Bấy giờ, rất nhiều người dòng Sakya tụ tập, hội họp lại, đã phàn nàn, chê bai, chỉ trích rằng: ‘Thật kỳ diệu thay, chư hiền! Thật hy hữu thay, chư hiền! Ở đây, bây giờ ai lại không phải là bậc Dự lưu! Bởi vì Saraṇāni dòng Sakya đã mệnh chung; vị ấy được Thế Tôn tuyên bố: ‘Là bậc Dự lưu, không bị rơi vào đọa xứ, chắc chắn, hướng đến sự giác ngộ.’ Saraṇāni dòng Sakya đã yếu kém trong học giới, đã uống rượu.’
Tena kho pana samayena saraṇāni sakko kālaṅkato hoti. So bhagavatā byākato: “sotāpanno avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo”ti.
Tatra sudaṁ sambahulā sakkā saṅgamma samāgamma ujjhāyanti khīyanti vipācenti: “acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho. Ettha dāni ko na sotāpanno bhavissati. Yatra hi nāma saraṇāni sakko kālaṅkato; so bhagavatā byākato: ‘sotāpanno avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo’ti. Saraṇāni sakko sikkhādubbalyamāpādi, majjapānaṁ apāyī”ti.
Atha kho mahānāmo sakko yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho mahānāmo sakko bhagavantaṁ etadavoca:
Now at that time Sarakāni the Sakyan had passed away. The Buddha declared that he was a stream-enterer, not liable to be reborn in the underworld, assured, destined for awakening.
At that, several Sakyans came together complaining, grumbling, and objecting, “Oh lord, how incredible, how amazing! Who can’t become a stream-enterer these days? For the Buddha even declared Sarakāni to be a stream-enterer after he passed away. Sarakāni was too weak for the training; he used to drink liquor.”
Then Mahānāma the Sakyan went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened. The Buddha said:
1021. Nhân duyên tại Kapilavatthu. Vào lúc bấy giờ, Saraṇāni người dòng Sakka đã mệnh chung. Vị ấy được Thế Tôn tuyên bố là: ‘Bậc Dự Lưu, có pháp không bị rơi vào đọa xứ, chắc chắn, hướng đến giác ngộ.’ Khi ấy, rất nhiều người dòng Sakka tụ tập, hội họp lại, đã phàn nàn, chê bai, chỉ trích rằng: ‘Thật kỳ diệu thay, chư hiền! Thật hy hữu thay, chư hiền! Bây giờ ở đây, ai mà sẽ không là bậc Dự Lưu chứ! Bởi vì Saraṇāni người dòng Sakka đã mệnh chung, và vị ấy được Thế Tôn tuyên bố là: ‘Bậc Dự Lưu, có pháp không bị rơi vào đọa xứ, chắc chắn, hướng đến giác ngộ.’ Saraṇāni người dòng Sakka đã là người không thực hành đầy đủ học pháp.’ Rồi Mahānāma người dòng Sakka đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Mahānāma người dòng Sakka bạch với Thế Tôn điều này:
Bạch Thế Tôn, ở đây, Saraṇāni người dòng Sakka đã mệnh chung. Vị ấy được Thế Tôn tuyên bố là: ‘Bậc Dự Lưu, có pháp không bị rơi vào đọa xứ, chắc chắn, hướng đến giác ngộ.’ Bạch Thế Tôn, khi ấy, rất nhiều người dòng Sakka tụ tập, hội họp lại, đã phàn nàn, chê bai, chỉ trích rằng: ‘Thật kỳ diệu thay, chư hiền! Thật hy hữu thay, chư hiền! Bây giờ ở đây, ai mà sẽ không là bậc Dự Lưu chứ! Bởi vì Saraṇāni người dòng Sakka đã mệnh chung, và vị ấy được Thế Tôn tuyên bố là: ‘Bậc Dự Lưu, có pháp không bị rơi vào đọa xứ, chắc chắn, hướng đến giác ngộ.’ Saraṇāni người dòng Sakka đã là người không thực hành đầy đủ học pháp.’
“Yo so, mahānāma, dīgharattaṁ upāsako buddhaṁ saraṇaṁ gato dhammaṁ saraṇaṁ gato saṅghaṁ saraṇaṁ gato, so kathaṁ vinipātaṁ gaccheyya. Yañhi taṁ, mahānāma, sammā vadamāno vadeyya: ‘dīgharattaṁ upāsako buddhaṁ saraṇaṁ gato dhammaṁ saraṇaṁ gato saṅghaṁ saraṇaṁ gato’ti, saraṇāni sakkaṁ sammā vadamāno vadeyya. Saraṇāni, mahānāma, sakko dīgharattaṁ upāsako buddhaṁ saraṇaṁ gato dhammaṁ saraṇaṁ gato saṅghaṁ saraṇaṁ gato. So kathaṁ vinipātaṁ gaccheyya.
“Mahānāma, when a lay follower has for a long time gone for refuge to the Buddha, the teaching, and the Saṅgha, how could they go to the underworld? And if anyone should rightly be said to have for a long time gone for refuge to the Buddha, the teaching, and the Saṅgha, it’s Sarakāni the Sakyan. Sarakāni the Sakyan has for a long time gone for refuge to the Buddha, the teaching, and the Saṅgha. How could he go to the underworld?
Này Mahānāma, người cận sự nam nào đã quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng trong một thời gian dài, làm sao vị ấy có thể đi đến đọa xứ được! Này Mahānāma, nếu nói một cách chân chánh, người ta nên nói về Saraṇāni người dòng Sakka rằng: ‘Người cận sự nam đã quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng trong một thời gian dài.’ Này Mahānāma, Saraṇāni người dòng Sakka là người cận sự nam đã quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng trong một thời gian dài, làm sao vị ấy có thể đi đến đọa xứ được!
Idha, mahānāma, ekacco puggalo buddhe aveccappasādena samannāgato hoti—itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti. Dhamme …pe… saṅghe …pe… hāsapañño javanapañño vimuttiyā ca samannāgato. So āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati. Ayampi kho, mahānāma, puggalo parimutto nirayā parimutto tiracchānayoniyā parimutto pettivisayā parimutto apāyaduggativinipātā.
Take a certain individual who has experiential confidence in the Buddha … the teaching … the Saṅgha … They have laughing wisdom and swift wisdom, and are endowed with freedom. They’ve realized the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom. And they live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements. This individual is exempt from hell, the animal realm, and the ghost realm. They’re exempt from places of loss, bad places, the underworld.
“Này Mahānāma, ở đây, có hạng người có niềm tin tuyệt đối và hết sức trong sạch nơi đức Phật rằng: ‘Vị Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán ... là bậc Thiên Nhơn Sư, là bậc Phật, là bậc Thế Tôn.’ ... nơi Pháp ... nơi Tăng ... có trí tuệ hoan hỷ, có trí tuệ nhanh nhạy, và đã thành tựu sự giải thoát. Vị ấy, do sự đoạn tận các lậu hoặc, đã tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại tâm giải thoát, tuệ giải thoát không còn lậu hoặc. Này Mahānāma, hạng người này cũng đã được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sanh, được giải thoát khỏi cảnh giới ngạ quỷ, được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ.”
Idha pana, mahānāma, ekacco puggalo buddhe aveccappasādena samannāgato hoti—itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti. Dhamme …pe… saṅghe …pe… hāsapañño javanapañño na ca vimuttiyā samannāgato. So pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātiko hoti tattha parinibbāyī anāvattidhammo tasmā lokā. Ayampi kho, mahānāma, puggalo parimutto nirayā parimutto tiracchānayoniyā parimutto pettivisayā parimutto apāyaduggativinipātā.
Idha pana, mahānāma, ekacco puggalo buddhe aveccappasādena samannāgato hoti—itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti. Dhamme …pe… saṅghe …pe… na hāsapañño na javanapañño na ca vimuttiyā samannāgato. So tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā rāgadosamohānaṁ tanuttā sakadāgāmī hoti, sakideva imaṁ lokaṁ āgantvā dukkhassantaṁ karoti. Ayampi kho, mahānāma, puggalo parimutto nirayā parimutto tiracchānayoniyā parimutto pettivisayā parimutto apāyaduggativinipātā.
Idha pana, mahānāma, ekacco puggalo buddhe aveccappasādena samannāgato hoti—itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti; dhamme …pe… saṅghe …pe… na hāsapañño na javanapañño na ca vimuttiyā samannāgato.
Take another individual who has experiential confidence in the Buddha … the teaching … the Saṅgha … They have laughing wisdom and swift wisdom, but are not endowed with freedom. With the ending of the five lower fetters they’re reborn spontaneously. They are extinguished there, and are not liable to return from that world. This individual, too, is exempt from hell, the animal realm, and the ghost realm. They’re exempt from places of loss, bad places, the underworld.
Take another individual who has experiential confidence in the Buddha … the teaching … the Saṅgha … But they don’t have laughing wisdom or swift wisdom, nor are they endowed with freedom. With the ending of three fetters, and the weakening of greed, hate, and delusion, they’re a once-returner. They come back to this world once only, then make an end of suffering. This individual, too, is exempt from hell, the animal realm, and the ghost realm. They’re exempt from places of loss, bad places, the underworld.
Take another individual who has experiential confidence in the Buddha … the teaching … the Saṅgha … But they don’t have laughing wisdom or swift wisdom, nor are they endowed with freedom.
“Lại nữa, này Mahānāma, ở đây, có hạng người có niềm tin tuyệt đối và hết sức trong sạch nơi đức Phật rằng: ‘Vị Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán ... là bậc Thiên Nhơn Sư, là bậc Phật, là bậc Thế Tôn.’ ... nơi Pháp ... nơi Tăng ... có trí tuệ hoan hỷ, có trí tuệ nhanh nhạy, nhưng không thành tựu sự giải thoát. Vị ấy, do sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, là vị nhập Niết-bàn ở khoảng giữa, là vị nhập Niết-bàn khi vừa sanh, là vị nhập Niết-bàn không cần gia công, là vị nhập Niết-bàn cần gia công, là vị đi ngược dòng đến cõi Sắc Cứu Cánh. Này Mahānāma, hạng người này cũng đã được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sanh, được giải thoát khỏi cảnh giới ngạ quỷ, được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ.”
Idha pana, mahānāma, ekacco puggalo na heva kho buddhe aveccappasādena samannāgato hoti … na dhamme …pe… na saṅghe …pe… na hāsapañño na javanapañño na ca vimuttiyā samannāgato.
Take another individual who doesn’t have experiential confidence in the Buddha … the teaching … the Saṅgha … They don’t have laughing wisdom or swift wisdom, nor are they endowed with freedom.
“Lại nữa, này Mahānāma, ở đây, có hạng người có niềm tin tuyệt đối và hết sức trong sạch nơi đức Phật rằng: ‘Vị Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán ... là bậc Thiên Nhơn Sư, là bậc Phật, là bậc Thế Tôn.’ ... nơi Pháp ... nơi Tăng ... không có trí tuệ hoan hỷ, không có trí tuệ nhanh nhạy, và không thành tựu sự giải thoát. Vị ấy, do sự đoạn tận ba kiết sử, trở thành bậc Dự-lưu, không còn bị đọa lạc, chắc chắn hướng đến giác ngộ. Này Mahānāma, hạng người này cũng đã được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sanh, được giải thoát khỏi cảnh giới ngạ quỷ, được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ.”
“Lại nữa, này Mahānāma, ở đây, có hạng người không có niềm tin tuyệt đối và hết sức trong sạch nơi đức Phật ... nơi Pháp ... nơi Tăng ... không có trí tuệ hoan hỷ, không có trí tuệ nhanh nhạy, và không thành tựu sự giải thoát; tuy nhiên, vị ấy có những pháp này: tín căn ... cho đến tuệ căn. Và các pháp do Như Lai thuyết giảng được vị ấy chấp nhận sau khi đã thẩm sát vừa phải bằng trí tuệ. Này Mahānāma, hạng người này cũng không đi đến địa ngục, không đi đến loài bàng sanh, không đi đến cảnh giới ngạ quỷ, không đi đến cõi dữ, ác thú, đọa xứ.”
Idha pana, mahānāma, ekacco puggalo na heva kho buddhe aveccappasādena samannāgato hoti … na dhamme …pe… na saṅghe …pe… na hāsapañño na javanapañño na ca vimuttiyā samannāgato, api cassa ime dhammā honti saddhindriyaṁ …pe… paññindriyaṁ.
Take another individual who doesn’t have experiential confidence in the Buddha … the teaching … the Saṅgha … They don’t have laughing wisdom or swift wisdom, nor are they endowed with freedom. Still, they have these qualities: the faculties of faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom.
“Lại nữa, này Mahānāma, ở đây, có hạng người có niềm tin tuyệt đối và hết sức trong sạch nơi đức Phật rằng: ‘Vị Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán ... là bậc Thiên Nhơn Sư, là bậc Phật, là bậc Thế Tôn.’ ... nơi Pháp ... nơi Tăng ... không có trí tuệ hoan hỷ, không có trí tuệ nhanh nhạy, và không thành tựu sự giải thoát. Vị ấy, do sự đoạn tận ba kiết sử, do làm muội lược tham, sân, si, trở thành bậc Nhất-lai, chỉ một lần nữa trở lại thế gian này rồi chấm dứt khổ đau. Này Mahānāma, hạng người này cũng đã được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sanh, được giải thoát khỏi cảnh giới ngạ quỷ, được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ.”
Ime cepi, mahānāma, mahāsālā subhāsitaṁ dubbhāsitaṁ ājāneyyuṁ, ime cāhaṁ mahāsāle byākareyyaṁ: ‘sotāpannā avinipātadhammā niyatā sambodhiparāyaṇā’ti;
If these great sal trees could understand what was well said and poorly said, I’d declare them to be stream-enterers.
“Lại nữa, này Mahānāma, ở đây, có hạng người không có niềm tin tuyệt đối và hết sức trong sạch nơi đức Phật ... nơi Pháp ... nơi Tăng ... không có trí tuệ hoan hỷ, không có trí tuệ nhanh nhạy, và không thành tựu sự giải thoát; tuy nhiên, vị ấy có những pháp này: tín căn ... cho đến tuệ căn. Và vị ấy có một mức độ tin tưởng, một mức độ thương mến đối với Như Lai. Này Mahānāma, hạng người này cũng không đi đến địa ngục, không đi đến loài bàng sanh, không đi đến cảnh giới ngạ quỷ, không đi đến cõi dữ, ác thú, đọa xứ.”
Catutthaṁ.
“Này Mahānāma, ví như một thửa ruộng tốt, đất tốt, gốc rễ đã được nhổ sạch, và hạt giống không bị bể, không bị thối, không bị gió nắng làm hư, có lõi, được gieo trồng tốt, và trời lại mưa thuận gió hòa. Liệu những hạt giống ấy có thể tăng trưởng, phát triển, lớn mạnh không?” “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” “Cũng vậy, này Mahānāma, ở đây, giáo pháp được khéo thuyết giảng, được khéo trình bày, hướng đến sự giải thoát, đưa đến an tịnh, do bậc Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết – Ta nói rằng điều này giống như thửa ruộng tốt. Và trong giáo pháp ấy, người đệ tử sống thực hành pháp và tùy pháp, thực hành đúng đắn, sống theo pháp – Ta nói rằng điều này giống như hạt giống tốt. Huống nữa là Saraṇāni người dòng Sakka! Này Mahānāma, Saraṇāni người dòng Sakka vào lúc lâm chung đã là người viên mãn trong học giới.” Hết phẩm thứ năm.