- Saṁyutta Nikāya 55.22
- 3. Saraṇānivagga
Dutiyamahānāmasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Dutiyamahānāmasutta
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Vi-n 2 Rồi Mahānāma …
Vi-n 3 —Ở đây, bạch Thế Tôn, Kapilavatthu …
Vi-n 4 —Chớ có sợ hãi, này Mahānāma! Chớ có sợ hãi, này Mahānāma! Không ác sẽ là cái chết của Ông! Không ác là cái chết của Ông! Do thành tựu bốn pháp, này Mahānāma, vị Thánh đệ tử thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn. Thế nào là bốn?
Vi-n 5 Ở đây, này Mahānāma, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng … Phật, Thế Tôn.” … đối với Pháp … đối với Tăng … thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính … đưa đến Thiền định.
Vi-n 6 Ví như, này Mahānāma, một cây thiên về phía Ðông, hướng về phía Ðông, xuôi về phía Ðông, nếu bị chặt đứt từ gốc rễ, nó sẽ ngả về phía nào?
—Bạch Thế Tôn, về phía nào nó thiên, về phía nào nó hướng, về phía nào nó xuôi.
—Cũng vậy, này Mahānāma, do thành tựu bốn pháp này, vị Thánh đệ tử thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
2. Kinh Mahānāma thứ hai
“idaṁ, bhante, kapilavatthu iddhañceva phītañca bāhujaññaṁ ākiṇṇamanussaṁ sambādhabyūhaṁ. So khvāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ vā payirupāsitvā manobhāvanīye vā bhikkhū sāyanhasamayaṁ kapilavatthuṁ pavisanto; bhantenapi hatthinā samāgacchāmi; bhantenapi assena samāgacchāmi; bhantenapi rathena samāgacchāmi; bhantenapi sakaṭena samāgacchāmi; bhantenapi purisena samāgacchāmi. Tassa mayhaṁ, bhante, tasmiṁ samaye mussateva bhagavantaṁ ārabbha sati, mussati dhammaṁ ārabbha sati, mussati saṅghaṁ ārabbha sati. Tassa mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti: ‘imamhi cāhaṁ samaye kālaṁ kareyyaṁ, kā mayhaṁ gati, ko abhisamparāyo’”ti?
“Sir, this Kapilavatthu is successful and prosperous, populous and full of people, with cramped cul-de-sacs. In the late afternoon, after paying homage to the Buddha or an esteemed mendicant, I enter Kapilavatthu. I encounter a stray elephant, horse, chariot, cart, or person. At that time I lose mindfulness regarding the Buddha, the teaching, and the Saṅgha. I think: ‘If I were to die at this time, where would I be reborn in my next life?’”
1018. Tôi nghe như vầy: Một thời, Đức Thế Tôn trú ở xứ Sakka, tại Kapilavatthu, trong tu viện Nigrodhārāma. Bấy giờ, Mahānāma thuộc dòng Sakka đi đến nơi Đức Thế Tôn đang ở; sau khi đến, đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Mahānāma thuộc dòng Sakka bạch với Đức Thế Tôn điều này: “Bạch Thế Tôn, thành Kapilavatthu này thịnh vượng, phồn vinh, đông dân, người ở chen chúc, đường sá chật hẹp. Bạch Thế Tôn, con, sau khi hầu cận Đức Thế Tôn hoặc các vị Tỳ khưu đáng phát triển tâm, vào buổi chiều khi đi vào thành Kapilavatthu, con gặp phải voi điên, gặp phải ngựa điên, gặp phải xe điên, gặp phải cỗ xe điên, gặp phải người điên. Bạch Thế Tôn, vào lúc ấy, niệm của con về Đức Thế Tôn bị thất lạc, niệm về Pháp bị thất lạc, niệm về Tăng bị thất lạc. Bạch Thế Tôn, con có suy nghĩ như vầy: ‘Nếu con chết vào lúc này, sanh thú của con sẽ là gì, đời sau của con sẽ ra sao?’”
“Mā bhāyi, mahānāma, mā bhāyi, mahānāma. Apāpakaṁ te maraṇaṁ bhavissati apāpikā kālaṅkiriyā. Catūhi kho, mahānāma, dhammehi samannāgato ariyasāvako nibbānaninno hoti nibbānapoṇo nibbānapabbhāro. Katamehi catūhi? Idha, mahānāma, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti—itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti. Dhamme …pe… saṅghe …pe… ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi …pe… samādhisaṁvattanikehi.
“Do not fear, Mahānāma, do not fear! Your death will not be a bad one; your passing will not be a bad one. A noble disciple who has four things slants, slopes, and inclines toward extinguishment. What four? It’s when a noble disciple has experiential confidence in the Buddha … the teaching … the Saṅgha … And they have the ethical conduct loved by the noble ones … leading to immersion.
“Này Mahānāma, đừng sợ hãi! Này Mahānāma, đừng sợ hãi! Cái chết của ông sẽ không xấu xa, sự mệnh chung sẽ không tồi tệ. Này Mahānāma, vị Thánh đệ tử thành tựu bốn pháp thì hướng về Nibbāna, xuôi về Nibbāna, nghiêng về Nibbāna. Bốn pháp nào? Ở đây, này Mahānāma, vị Thánh đệ tử thành tựu niềm tin bất động đối với Đức Phật: ‘Đức Thế Tôn là như vậy... là bậc Đạo Sư của trời và người, là bậc Giác Ngộ, là Đức Thế Tôn.’ (Vị ấy thành tựu niềm tin bất động) đối với Pháp... đối với Tăng... (Vị ấy) thành tựu các giới được các bậc Thánh ưa thích, không bị sứt mẻ... đưa đến định.”
Seyyathāpi, mahānāma, rukkho pācīnaninno pācīnapoṇo pācīnapabbhāro, so mūlacchinno katamena papateyyā”ti?
“Yena, bhante, ninno yena poṇo yena pabbhāro”ti.
“Evameva kho, mahānāma, imehi catūhi dhammehi samannāgato ariyasāvako nibbānaninno hoti nibbānapoṇo nibbānapabbhāro”ti.
Dutiyaṁ.
Suppose there was a tree that slants, slopes, and inclines to the east. If it was cut off at the root where would it fall?”
“Sir, it would fall in the direction that it slants, slopes, and inclines.”
“In the same way, a noble disciple who has four things slants, slopes, and inclines toward extinguishment.”
“Này Mahānāma, ví như có một cây cối nghiêng về hướng đông, xuôi về hướng đông, dốc về hướng đông. Khi bị chặt ở gốc, nó sẽ ngã về hướng nào?” “Bạch Thế Tôn, nó sẽ ngã về hướng mà nó nghiêng, nó xuôi, nó dốc.” “Cũng vậy, này Mahānāma, vị Thánh đệ tử đã thành tựu bốn pháp này thì nghiêng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn, dốc về Niết-bàn.” Kinh thứ hai.