- Saṁyutta Nikāya 55.21
- 3. Saraṇānivagga
Paṭhamamahānāmasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Paṭhamamahānāmasutta
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, khu vườn Nigrodha.
Vi-n 2 Rồi họ Thích Mahānāma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, họ Thích Mahānāma bạch Thế Tôn:
Vi-n 3 —Kapilavatthu này, bạch Thế Tôn, là phồn vinh, phú cường, dân cư đông đúc, quần chúng khắp nơi chen chúc, chật hẹp. Bạch Thế Tôn, sau khi con hầu hạ Thế Tôn hay các Tỷ-kheo đáng kính, vào buổi chiều, con đi vào Kapilavatthu, con gặp con voi cuồng chạy; con gặp con ngựa cuồng chạy; con gặp người cuồng chạy; con gặp cỗ xe lớn cuồng chạy; con gặp cỗ xe nhỏ cuồng chạy. Trong khi ấy, bạch Thế Tôn, tâm con nghĩ đến Phật bị hoang mang, tâm con nghĩ đến Pháp bị hoang mang, tâm con nghĩ đến chúng Tăng bị hoang mang. Rồi bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Nếu lúc ấy con mệnh chung, thời sanh thú của con là gì, sanh xứ đời sau chỗ nào?”
Vi-n 4 —Chớ có sợ, này Mahānāma! Chớ có sợ, này Mahānāma! Không ác sẽ là cái chết của Ông! Không ác là cái chết của ông! Này Mahānāma, với ai đã lâu ngày tâm tu tập trọn vẹn về tín, tâm tu tập trọn vẹn về giới, tâm tu tập trọn vẹn về sở văn, tâm tu tập trọn vẹn về thí xả, tâm tu tập trọn vẹn về trí tuệ; với người ấy, dầu thân có sắc này, do bốn đại hợp thành, do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, có bị vô thường phá hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, hoại diệt; dầu cho thân này ở đây bị quạ ăn, chim kên ăn, chim ưng ăn, chó ăn, hay giả-can ăn, hay các loại chúng sanh sai khác ăn; nhưng nếu tâm của vị ấy được lâu ngày tu tập trọn vẹn về tín, tu tập trọn vẹn về giới, tu tập trọn vẹn về sở văn, tu tập trọn vẹn về thí xả, tu tập trọn vẹn về trí tuệ, thời tâm của vị ấy thượng thặng, đi đến thù thắng.
Vi-n 5 Ví như, này Mahānāma, một người nhận chìm một ghè sữa bơ, hay một ghè dầu vào trong một hồ nước sâu và đập bể ghè ấy. Ở đây, các mảnh ghè hay mảnh vụn chìm xuống nước; nhưng sữa, bơ hay dầu thời nổi lên, trồi lên trên. Cũng vậy, này Mahānāma, với ai đã lâu ngày, tâm được tu tập trọn vẹn về tín, tâm được tu tập trọn vẹn về giới, tâm được tu tập trọn vẹn về sở văn, tâm được tu tập trọn vẹn về thí xả, tâm được tu tập trọn vẹn về trí tuệ; với người ấy, thân có sắc này, do bốn đại hợp thành, do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, có bị vô thường phá hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, đoạn diệt; dầu cho thân này ở đây bị quạ ăn, chim kên ăn, chim ưng ăn, chó ăn, giả-can ăn hay các sanh loại sai khác ăn; nhưng nếu tâm của vị ấy được lâu ngày tu tập trọn vẹn về tín, tu tập trọn vẹn về giới, tu tập trọn vẹn về sở văn, tu tập trọn vẹn về thí xả, tu tập trọn vẹn về trí tuệ; thời tâm của vị ấy thượng thặng, đi đến thù thắng.
Vi-n 6 Này Mahānāma, đã lâu ngày tâm Ông được tu tập trọn vẹn về tín, được tu tập trọn vẹn về giới, được tu tập trọn vẹn về sở văn, được tu tập trọn vẹn về thí xả, được tu tập trọn vẹn về trí tuệ. Chớ có sợ, này Mahānāma, chớ có sợ, này Mahānāma, không ác sẽ là cái chết của Ông! Không ác là cái chết của Ông!
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
1. Kinh Mahānāma Thứ Nhất
“idaṁ, bhante, kapilavatthu iddhañceva phītañca bāhujaññaṁ ākiṇṇamanussaṁ sambādhabyūhaṁ. So khvāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ vā payirupāsitvā manobhāvanīye vā bhikkhū sāyanhasamayaṁ kapilavatthuṁ pavisanto;
“Sir, this Kapilavatthu is successful and prosperous, populous and full of people, with cramped cul-de-sacs. In the late afternoon, after paying homage to the Buddha or an esteemed mendicant, I enter Kapilavatthu.
1017. Tôi nghe như vầy: Một thời, Đức Thế Tôn trú ở xứ Sakka, tại Kapilavatthu, trong tu viện Nigrodhārāma. Bấy giờ, Mahānāma thuộc dòng Sakka đi đến nơi Đức Thế Tôn đang ở; sau khi đến, đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Mahānāma thuộc dòng Sakka bạch với Đức Thế Tôn điều này: “Bạch Thế Tôn, thành Kapilavatthu này thịnh vượng, phồn vinh, đông dân, người ở chen chúc, đường sá chật hẹp. Bạch Thế Tôn, con, sau khi hầu cận Đức Thế Tôn hoặc các vị Tỳ khưu đáng phát triển tâm, vào buổi chiều khi đi vào thành Kapilavatthu, con gặp phải voi điên, gặp phải ngựa điên, gặp phải xe điên, gặp phải cỗ xe điên, gặp phải người điên. Bạch Thế Tôn, vào lúc ấy, niệm của con về Đức Thế Tôn bị thất lạc, niệm về Pháp bị thất lạc, niệm về Tăng bị thất lạc. Bạch Thế Tôn, con có suy nghĩ như vầy: ‘Nếu con chết vào lúc này, sanh thú của con sẽ là gì, đời sau của con sẽ ra sao?’”
1018. Tôi nghe như vầy: Một thời, Đức Thế Tôn trú ở xứ Sakka, tại Kapilavatthu, trong tu viện Nigrodhārāma. Bấy giờ, Mahānāma thuộc dòng Sakka đi đến nơi Đức Thế Tôn đang ở; sau khi đến, đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Mahānāma thuộc dòng Sakka bạch với Đức Thế Tôn điều này: “Bạch Thế Tôn, thành Kapilavatthu này thịnh vượng, phồn vinh, đông dân, người ở chen chúc, đường sá chật hẹp. Bạch Thế Tôn, con, sau khi hầu cận Đức Thế Tôn hoặc các vị Tỳ khưu đáng phát triển tâm, vào buổi chiều khi đi vào thành Kapilavatthu, con gặp phải voi điên, gặp phải ngựa điên, gặp phải xe điên, gặp phải cỗ xe điên, gặp phải người điên. Bạch Thế Tôn, vào lúc ấy, niệm của con về Đức Thế Tôn bị thất lạc, niệm về Pháp bị thất lạc, niệm về Tăng bị thất lạc. Bạch Thế Tôn, con có suy nghĩ như vầy: ‘Nếu con chết vào lúc này, sanh thú của con sẽ là gì, đời sau của con sẽ ra sao?’”
“Mā bhāyi, mahānāma, mā bhāyi, mahānāma. Apāpakaṁ te maraṇaṁ bhavissati apāpikā kālaṅkiriyā. Yassa kassaci, mahānāma, dīgharattaṁ saddhāparibhāvitaṁ cittaṁ sīlaparibhāvitaṁ cittaṁ sutaparibhāvitaṁ cittaṁ cāgaparibhāvitaṁ cittaṁ paññāparibhāvitaṁ cittaṁ, tassa yo hi khvāyaṁ kāyo rūpī cātumahābhūtiko mātāpettikasambhavo odanakummāsūpacayo aniccucchādanaparimaddanabhedanaviddhaṁsanadhammo. Taṁ idheva kākā vā khādanti gijjhā vā khādanti kulalā vā khādanti sunakhā vā khādanti siṅgālā vā khādanti vividhā vā pāṇakajātā khādanti; yañca khvassa cittaṁ dīgharattaṁ saddhāparibhāvitaṁ …pe… paññāparibhāvitaṁ taṁ uddhagāmi hoti visesagāmi.
“Do not fear, Mahānāma, do not fear! Your death will not be a bad one; your passing will not be a bad one. Take someone whose mind has for a long time been imbued with faith, ethics, learning, generosity, and wisdom. Their body is formed, made up of the four principal states, produced by mother and father, built up from rice and porridge, liable to impermanence, to wearing away and erosion, to breaking up and destruction. Right here the crows, vultures, hawks, hounds, jackals, and many kinds of little creatures devour it. But their mind rises up, headed for a higher place.
“Này Mahānāma, đừng sợ hãi! Này Mahānāma, đừng sợ hãi! Cái chết của ông sẽ không xấu xa, sự mệnh chung sẽ không tồi tệ. Này Mahānāma, vị Thánh đệ tử thành tựu bốn pháp thì hướng về Nibbāna, xuôi về Nibbāna, nghiêng về Nibbāna. Bốn pháp nào? Ở đây, này Mahānāma, vị Thánh đệ tử thành tựu niềm tin bất động đối với Đức Phật: ‘Đức Thế Tôn là như vậy... là bậc Đạo Sư của trời và người, là bậc Giác Ngộ, là Đức Thế Tôn.’ (Vị ấy thành tựu niềm tin bất động) đối với Pháp... đối với Tăng... (Vị ấy) thành tựu các giới được các bậc Thánh ưa thích, không bị sứt mẻ... đưa đến định.”
Seyyathāpi, mahānāma, puriso sappikumbhaṁ vā telakumbhaṁ vā gambhīraṁ udakarahadaṁ ogāhitvā bhindeyya. Tatra yā assa sakkharā vā kaṭhalā vā sā adhogāmī assa, yañca khvassa tatra sappi vā telaṁ vā taṁ uddhagāmi assa visesagāmi.
Evameva kho, mahānāma, yassa kassaci dīgharattaṁ saddhāparibhāvitaṁ cittaṁ …pe… paññāparibhāvitaṁ cittaṁ tassa yo hi khvāyaṁ kāyo rūpī cātumahābhūtiko mātāpettikasambhavo odanakummāsūpacayo aniccucchādanaparimaddanabhedanaviddhaṁsanadhammo taṁ idheva kākā vā khādanti gijjhā vā khādanti kulalā vā khādanti sunakhā vā khādanti siṅgālā vā khādanti vividhā vā pāṇakajātā khādanti; yañca khvassa cittaṁ dīgharattaṁ saddhāparibhāvitaṁ …pe… paññāparibhāvitaṁ taṁ uddhagāmi hoti visesagāmi.
Tuyhaṁ kho pana, mahānāma, dīgharattaṁ saddhāparibhāvitaṁ cittaṁ …pe… paññāparibhāvitaṁ cittaṁ. Mā bhāyi, mahānāma, mā bhāyi, mahānāma. Apāpakaṁ te maraṇaṁ bhavissati, apāpikā kālaṅkiriyā”ti.
Paṭhamaṁ.
Suppose a person was to sink a pot of ghee or oil into a deep lake and break it open. Its shards and chips would sink down, while the ghee or oil in it would rise up, headed for a higher place.
In the same way, take someone whose mind has for a long time been imbued with faith, ethics, learning, generosity, and wisdom. Their body is formed, made up of the four principal states, produced by mother and father, built up from rice and porridge, liable to impermanence, to wearing away and erosion, to breaking up and destruction. Right here the crows, vultures, hawks, hounds, jackals, and many kinds of little creatures devour it. But their mind rises up, headed for a higher place.
Your mind, Mahānāma, has for a long time been imbued with faith, ethics, learning, generosity, and wisdom. Do not fear, Mahānāma, do not fear! Your death will not be a bad one; your passing will not be a bad one.”
“Này Mahānāma, ví như một người lặn xuống hồ nước sâu và đập vỡ một hũ bơ hoặc một hũ dầu. Ở đó, những mảnh sỏi hay mảnh gốm sẽ chìm xuống dưới, còn bơ hay dầu ở đó sẽ nổi lên trên, đi đến nơi thù thắng. Cũng vậy, này Mahānāma, bất cứ người nào có tâm được huân tập lâu dài bởi đức tin... được huân tập bởi trí tuệ, thì thân này của người ấy có sắc, do bốn đại tạo thành, do cha mẹ sanh, được nuôi dưỡng bằng cơm cháo, có bản chất vô thường, cần được xoa bóp, chà đắp, chịu sự tan rã, hủy hoại. Ngay tại đây, thân ấy bị quạ ăn, kên kên ăn, diều hâu ăn, chó ăn, chó rừng ăn, hoặc các loài sinh vật khác ăn; còn tâm của người ấy được huân tập lâu dài bởi đức tin... được huân tập bởi trí tuệ, tâm ấy đi lên trên, đi đến nơi thù thắng. Này Mahānāma, tâm của ông đã được huân tập lâu dài bởi đức tin... được huân tập bởi trí tuệ. Này Mahānāma, đừng sợ hãi! Này Mahānāma, đừng sợ hãi! Cái chết của ông sẽ không xấu xa, sự mệnh chung sẽ không tồi tệ.” Kinh thứ nhất.