- Saṁyutta Nikāya 48.45
- 5. Jarāvagga
Paṭhamapubbārāmasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Paṭhamapubbārāmasutta
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi, tại Ðông Viên, ở lầu đài của mẹ Migāra.
Vi-n 2 Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Bao nhiêu căn được tu tập, được làm cho sung mãn, này các Tỷ-kheo, khiến cho Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc có thể trả lời với chánh trí rằng: “Sanh đã tận … không còn trở lui trạng thái này nữa”?
—Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản …
Vi-n 3 —Do tu tập, do làm cho sung mãn chỉ một căn, này các Tỷ-kheo, khiến cho Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, có thể trả lời với chánh trí rằng: “Sanh đã tận … không còn trở lui trạng thái này nữa”. Một căn ấy là căn gì?
Vi-n 4 Với vị Thánh đệ tử có trí tuệ, này các Tỷ-kheo, tất nhiên (tadanvayà) tín được an trú, tất nhiên tinh tấn được an trú, tất nhiên niệm được an trú, tất nhiên định được an trú.
Vi-n 5 Do tu tập, do làm cho sung mãn chỉ một căn này, này các Tỷ-kheo, khiến cho Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, có thể trả lời với chánh trí rằng: “Sanh đã tận … không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
5. Kinh Pubbārāma Thứ Nhất
515. Tôi nghe như vầy – một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại tu viện Pubbārāma, trong lâu đài của mẹ Migāra. Tại đấy, Thế Tôn gọi các tỳ khưu: “Này các tỳ khưu, do tu tập, thực hành sung mãn bao nhiêu quyền mà vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc tuyên bố chánh trí rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa, tôi biết rõ như vậy’?”
“Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā …pe…
“ekassa kho, bhikkhave, indriyassa bhāvitattā bahulīkatattā khīṇāsavo bhikkhu aññaṁ byākaroti: ‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāmīti. Katamassa ekassa paññindriyassa paññavato, bhikkhave, ariyasāvakassa tadanvayā saddhā saṇṭhāti, tadanvayaṁ vīriyaṁ saṇṭhāti, tadanvayā sati saṇṭhāti, tadanvayo samādhi saṇṭhāti. Imassa kho, bhikkhave, ekassa indriyassa bhāvitattā bahulīkatattā khīṇāsavo bhikkhu aññaṁ byākaroti: ‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāmī”ti.
Pañcamaṁ.
“Our teachings are rooted in the Buddha. …”
“A mendicant must develop and cultivate one faculty so that they can declare enlightenment. What one? The faculty of wisdom. When a noble disciple has wisdom, the faith, energy, mindfulness, and immersion that follow along with that become stabilized. This is the one faculty that a mendicant must develop and cultivate so that they can declare enlightenment: ‘I understand: “Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.”’”
“Bạch Thế Tôn, các pháp của chúng con lấy Thế Tôn làm căn bản... cho đến... “Này các tỳ khưu, do tu tập, thực hành sung mãn một quyền mà vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc tuyên bố chánh trí rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa, tôi biết rõ như vậy.’ Một quyền ấy là gì? Đó là tuệ quyền. Này các tỳ khưu, đối với vị Thánh đệ tử có trí tuệ, tín đi theo sau đó được thiết lập, tấn đi theo sau đó được thiết lập, niệm đi theo sau đó được thiết lập, định đi theo sau đó được thiết lập. Này các tỳ khưu, chính do tu tập, thực hành sung mãn một quyền này mà vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc tuyên bố chánh trí rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa, tôi biết rõ như vậy.’” (Kinh) thứ năm.