- Saṁyutta Nikāya 48.44
- 5. Jarāvagga
Pubbakoṭṭhakasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Pubbakoṭṭhakasutta
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi, tại Pubbakoṭṭhaka.
Vi-n 2 Tại đấy, Thế Tôn bảo Tôn giả Sāriputta:
Vi-n 3 —Ông có tin không, này Sāriputta, tín căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh…? Ông có tin không, này Sāriputta, tuệ căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh?
Vi-n 4 —Ở đây, bạch Thế Tôn, con không đi với lòng tin của Thế Tôn, rằng tín căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh … tuệ căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh. Với những ai, bạch Thế Tôn, không chứng trí, không thấy, không hiểu, không chứng ngộ, không đạt tới với trí tuệ; họ cần đi với lòng tin của kẻ khác (tin rằng): “Tín căn … tuệ căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh”. Còn với những ai, bạch Thế Tôn, đã chứng tri, đã thấy, đã hiểu, đã chứng ngộ, đã đạt tới với trí tuệ; những người ấy, ở đây, không có nghi ngờ, không có phân vân (tin rằng): “Tín căn … tuệ căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh”. Còn con, bạch Thế Tôn, đã chứng tri, đã thấy, đã hiểu, đã chứng ngộ, đã đạt tới với trí tuệ; con ở đây, không có nghi ngờ, không có phân vân (tin rằng): “Tín căn … tuệ căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh”.
Vi-n 5 —Lành thay, lành thay, này Sāriputta! Với những ai, này Sāriputta, không chứng tri, không thấy, không hiểu, không chứng ngộ, không đạt tới với trí tuệ; ở đây, họ cần đi với lòng tin của kẻ khác (tin rằng): “Tín căn … tuệ căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh”. Và còn với những ai, này Sāriputta, đã chứng tri, đã thấy, đã hiểu, đã chứng ngộ, đã đạt tới với trí tuệ; những người ấy, ở đây không có nghi ngờ, không có phân vân (tin rằng): “Tín căn … tuệ căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
4. Kinh Pubbakoṭṭhaka
“saddahasi tvaṁ, sāriputta—saddhindriyaṁ bhāvitaṁ bahulīkataṁ amatogadhaṁ hoti amataparāyaṇaṁ amatapariyosānaṁ …pe… paññindriyaṁ bhāvitaṁ bahulīkataṁ amatogadhaṁ hoti amataparāyaṇaṁ amatapariyosānan”ti?
“Sāriputta, do you have faith that the faculties of faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom, when developed and cultivated, have freedom from death as their objective, destination, and culmination?”
514. Tôi nghe như vầy – một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Pubbakoṭṭhaka. Tại đấy, Thế Tôn gọi Tôn giả Sāriputta: “Này Sāriputta, ông có tin rằng: ‘Tín quyền được tu tập, được thực hành sung mãn, sẽ đi đến bất tử, có bất tử là đích đến, có bất tử là cứu cánh... cho đến... tuệ quyền được tu tập, được thực hành sung mãn, sẽ đi đến bất tử, có bất tử là đích đến, có bất tử là cứu cánh’ không?”
“Na khvāhaṁ ettha, bhante, bhagavato saddhāya gacchāmi—saddhindriyaṁ …pe… paññindriyaṁ bhāvitaṁ bahulīkataṁ amatogadhaṁ hoti amataparāyaṇaṁ amatapariyosānaṁ. Yesañhetaṁ, bhante, aññātaṁ assa adiṭṭhaṁ aviditaṁ asacchikataṁ aphassitaṁ paññāya, te tattha paresaṁ saddhāya gaccheyyuṁ—saddhindriyaṁ …pe… paññindriyaṁ bhāvitaṁ bahulīkataṁ amatogadhaṁ hoti amataparāyaṇaṁ amatapariyosānaṁ. Yesañca kho etaṁ, bhante, ñātaṁ diṭṭhaṁ viditaṁ sacchikataṁ phassitaṁ paññāya, nikkaṅkhā te tattha nibbicikicchā—saddhindriyaṁ …pe… paññindriyaṁ bhāvitaṁ bahulīkataṁ amatogadhaṁ hoti amataparāyaṇaṁ amatapariyosānaṁ. Mayhañca kho etaṁ, bhante, ñātaṁ diṭṭhaṁ viditaṁ sacchikataṁ phassitaṁ paññāya. Nikkaṅkhvāhaṁ tattha nibbicikiccho saddhindriyaṁ …pe… paññindriyaṁ bhāvitaṁ bahulīkataṁ amatogadhaṁ hoti amataparāyaṇaṁ amatapariyosānan”ti.
“Sir, in this case I don’t rely on faith in the Buddha’s claim that the faculties of faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom, when developed and cultivated, have freedom from death as their objective, destination, and culmination. There are those who have not known or seen or understood or realized or experienced this with wisdom. They may rely on faith in this matter. But there are those who have known, seen, understood, realized, and experienced this with wisdom. They have no doubts or uncertainties in this matter. I have known, seen, understood, realized, and experienced this with wisdom. I have no doubts or uncertainties that the faculties of faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom, when developed and cultivated, have freedom from death as their objective, destination, and culmination.”
“Bạch Thế Tôn, về vấn đề này, con không đi theo đức tin đối với Thế Tôn rằng: ‘Tín quyền... cho đến... tuệ quyền được tu tập, được thực hành sung mãn, sẽ đi đến bất tử, có bất tử là đích đến, có bất tử là cứu cánh.’ Bạch Thế Tôn, những ai đối với pháp này mà chưa biết, chưa thấy, chưa hiểu rõ, chưa chứng ngộ, chưa tiếp xúc bằng trí tuệ, những vị ấy ở đây có thể đi theo đức tin của người khác rằng: ‘Tín quyền... cho đến... tuệ quyền được tu tập, được thực hành sung mãn, sẽ đi đến bất tử, có bất tử là đích đến, có bất tử là cứu cánh.’ Còn những ai, bạch Thế Tôn, đối với pháp này đã biết, đã thấy, đã hiểu rõ, đã chứng ngộ, đã tiếp xúc bằng trí tuệ, những vị ấy ở đây không còn do dự, không còn nghi hoặc rằng: ‘Tín quyền... cho đến... tuệ quyền được tu tập, được thực hành sung mãn, sẽ đi đến bất tử, có bất tử là đích đến, có bất tử là cứu cánh.’ Và bạch Thế Tôn, đối với pháp này, con đã biết, đã thấy, đã hiểu rõ, đã chứng ngộ, đã tiếp xúc bằng trí tuệ. Con ở đây không còn do dự, không còn nghi hoặc rằng: ‘Tín quyền... cho đến... tuệ quyền được tu tập, được thực hành sung mãn, sẽ đi đến bất tử, có bất tử là đích đến, có bất tử là cứu cánh.’”
“Sādhu sādhu, sāriputta. Yesañhetaṁ, sāriputta, aññātaṁ assa adiṭṭhaṁ aviditaṁ asacchikataṁ aphassitaṁ paññāya, te tattha paresaṁ saddhāya gaccheyyuṁ—saddhindriyaṁ bhāvitaṁ bahulīkataṁ amatogadhaṁ hoti amataparāyaṇaṁ amatapariyosānaṁ …pe… paññindriyaṁ bhāvitaṁ bahulīkataṁ amatogadhaṁ hoti amataparāyaṇaṁ amatapariyosānaṁ. Yesañca kho etaṁ, sāriputta, ñātaṁ diṭṭhaṁ viditaṁ sacchikataṁ phassitaṁ paññāya, nikkaṅkhā te tattha nibbicikicchā—saddhindriyaṁ bhāvitaṁ bahulīkataṁ amatogadhaṁ hoti amataparāyaṇaṁ amatapariyosānaṁ …pe… paññindriyaṁ bhāvitaṁ bahulīkataṁ amatogadhaṁ hoti amataparāyaṇaṁ amatapariyosānan”ti.
Catutthaṁ.
“Good, good, Sāriputta! There are those who have not known or seen or understood or realized or experienced this with wisdom. They may rely on faith in this matter. But there are those who have known, seen, understood, realized, and experienced this with wisdom. They have no doubts or uncertainties that the faculties of faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom, when developed and cultivated, have freedom from death as their objective, destination, and culmination.”
“Lành thay, lành thay, Sāriputta! Này Sāriputta, những ai đối với pháp này mà chưa biết, chưa thấy, chưa hiểu rõ, chưa chứng ngộ, chưa tiếp xúc bằng trí tuệ, những vị ấy ở đây có thể đi theo đức tin của người khác rằng: ‘Tín quyền được tu tập, được thực hành sung mãn, sẽ đi đến bất tử, có bất tử là đích đến, có bất tử là cứu cánh... cho đến... tuệ quyền được tu tập, được thực hành sung mãn, sẽ đi đến bất tử, có bất tử là đích đến, có bất tử là cứu cánh.’ Còn những ai, này Sāriputta, đối với pháp này đã biết, đã thấy, đã hiểu rõ, đã chứng ngộ, đã tiếp xúc bằng trí tuệ, những vị ấy ở đây không còn do dự, không còn nghi hoặc rằng: ‘Tín quyền được tu tập, được thực hành sung mãn, sẽ đi đến bất tử, có bất tử là đích đến, có bất tử là cứu cánh... cho đến... tuệ quyền được tu tập, được thực hành sung mãn, sẽ đi đến bất tử, có bất tử là đích đến, có bất tử là cứu cánh.’” (Kinh) thứ tư.