- Saṁyutta Nikāya 48.29
- 3. Chaḷindriyavagga
Bản dịch
SN 48.29 — Kinh Sa-môn và Bà-la-môn thứ nhất
Paṭhamasamaṇabrāhmaṇasutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, có sáu căn này. Thế nào là sáu? Nhãn căn … ý căn.
Vi-n 3 Những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, không như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi sáu căn này; những vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, này các Tỷ-kheo, không được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, hay không được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các hàng Bà-la-môn; và những bậc Tôn giả ấy, này các Tỷ-kheo, ngay trong hiện tại, không tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh, hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.
Vi-n 4 Những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi sáu căn này; những vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, này các Tỷ-kheo, được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, hay được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các hàng Bà-la-môn; và những bậc Tôn giả ấy, ngay trong hiện tại, tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh, hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 48.29
- 3. The Six Faculties
Ascetics and Brahmins (1st)
9. Kinh Sa-môn và Bà-la-môn thứ nhất
“Chayimāni, bhikkhave, indriyāni. Katamāni cha? Cakkhundriyaṁ, sotindriyaṁ, ghānindriyaṁ, jivhindriyaṁ, kāyindriyaṁ, manindriyaṁ.
Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā imesaṁ channaṁ indriyānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ nappajānanti, na me te, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā samaṇesu vā samaṇasammatā brāhmaṇesu vā brāhmaṇasammatā, na ca panete āyasmanto sāmaññatthaṁ vā brahmaññatthaṁ vā diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharanti.
Ye ca kho keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā imesaṁ channaṁ indriyānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ pajānanti, te kho me, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā samaṇesu ceva samaṇasammatā brāhmaṇesu ca brāhmaṇasammatā, te ca panāyasmanto sāmaññatthañca brahmaññatthañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharantī”ti.
Navamaṁ.
“Mendicants, there are these six faculties. What six? The faculties of the eye, ear, nose, tongue, body, and mind.
There are ascetics and brahmins who don’t truly understand the origin, disappearance, gratification, drawback, and escape when it comes to these six faculties. I don’t deem them as true ascetics and brahmins. Those venerables don’t realize the goal of life as an ascetic or brahmin, and don’t live having realized it with their own insight in this very life.
There are ascetics and brahmins who do truly understand the origin, disappearance, gratification, drawback, and escape when it comes to these six faculties. I deem them as true ascetics and brahmins. Those venerables realize the goal of life as an ascetic or brahmin, and live having realized it with their own insight.”
499. “Này các Tỳ khưu, có sáu căn này. Thế nào là sáu? Nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn, ý căn. Này các Tỳ khưu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật biết rõ sự sanh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, và sự xuất ly của sáu căn này, đối với Ta, này các Tỳ khưu, những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy không được xem là Sa-môn giữa các Sa-môn, hay là Bà-la-môn giữa các Bà-la-môn. Và những vị tôn giả ấy không tự mình với thắng tri, chứng ngộ và thành tựu ngay trong hiện tại mà an trú mục đích của Sa-môn hạnh hay mục đích của Bà-la-môn hạnh. Và này các Tỳ khưu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào như thật biết rõ sự sanh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, và sự xuất ly của sáu căn này, đối với Ta, này các Tỳ khưu, những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy được xem là Sa-môn giữa các Sa-môn, và là Bà-la-môn giữa các Bà-la-môn. Và những vị tôn giả ấy tự mình với thắng tri, chứng ngộ và thành tựu ngay trong hiện tại mà an trú mục đích của Sa-môn hạnh và mục đích của Bà-la-môn hạnh.” Kinh thứ chín.