- Saṁyutta Nikāya 48.30
- 3. Chaḷindriyavagga
Bản dịch
SN 48.30 — Kinh Sa-môn và Bà-la-môn thứ hai
Dutiyasamaṇabrāhmaṇasutta
Vi-n 3 —Những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, không như thật rõ biết nhãn căn, không như thật rõ biết nhãn căn tập khởi, không như thật rõ biết nhãn căn đoạn diệt, không như thật rõ biết con đường đưa đến nhãn căn đoạn diệt … nhĩ căn … tỷ căn … thiệt căn … thân căn … không như thật rõ biết ý căn, không như thật rõ biết ý căn tập khởi, không như thật rõ biết ý căn đoạn diệt, không như thật rõ biết con đường đưa đến ý căn đoạn diệt; những vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, này các Tỷ-kheo, không được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, hay không được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các hàng Bà-la-môn; và những bậc Tôn giả ấy, này các Tỷ-kheo, ngay trong hiện tại, không tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh, hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.
Vi-n 4 Nhưng những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, như thật rõ biết nhãn căn, như thật rõ biết nhãn căn tập khởi, như thật rõ biết nhãn căn đoạn diệt, như thật rõ biết con đường đưa đến nhãn căn đoạn diệt … nhĩ căn … tỷ căn … thiệt căn … thân căn … như thật rõ biết ý căn, như thật rõ biết ý căn tập khởi, như thật rõ biết ý căn đoạn diệt, như thật rõ biết con đường đưa đến ý căn đoạn diệt; những vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, này các Tỷ-kheo, được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, hay được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các hàng Bà-la-môn; và những bậc Tôn giả ấy, này các Tỷ-kheo, ngay trong hiện tại, tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh, hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 48.30
- 3. The Six Faculties
Ascetics and Brahmins (2nd)
10. Kinh Sa-môn và Bà-la-môn thứ hai
“Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā cakkhundriyaṁ nappajānanti, cakkhundriyasamudayaṁ nappajānanti, cakkhundriyanirodhaṁ nappajānanti, cakkhundriyanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ nappajānanti; sotindriyaṁ …pe… ghānindriyaṁ …pe… jivhindriyaṁ …pe… kāyindriyaṁ …pe… manindriyaṁ nappajānanti, manindriyasamudayaṁ nappajānanti, manindriyanirodhaṁ nappajānanti, manindriyanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ nappajānanti. Na me te, bhikkhave …pe… sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharanti.
“Mendicants, there are ascetics and brahmins who don’t understand the eye faculty, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation. They don’t understand the ear faculty … nose faculty … tongue faculty … body faculty … mind faculty, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation. I don’t deem them as true ascetics and brahmins. Those venerables don’t realize the goal of life as an ascetic or brahmin, and don’t live having realized it with their own insight in this very life.
500. “Này các Tỳ khưu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không biết rõ nhãn căn, không biết rõ sự sanh khởi của nhãn căn, không biết rõ sự đoạn diệt của nhãn căn, không biết rõ con đường đưa đến sự đoạn diệt của nhãn căn; không biết rõ nhĩ căn... cho đến... không biết rõ thân căn... cho đến... không biết rõ ý căn, không biết rõ sự sanh khởi của ý căn, không biết rõ sự đoạn diệt của ý căn, không biết rõ con đường đưa đến sự đoạn diệt của ý căn. Đối với Ta, này các Tỳ khưu, những vị ấy... không tự mình với thắng tri, chứng ngộ và thành tựu ngay trong hiện tại mà an trú.
Ye ca kho keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā cakkhundriyaṁ pajānanti, cakkhundriyasamudayaṁ pajānanti, cakkhundriyanirodhaṁ pajānanti, cakkhundriyanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānanti, sotindriyaṁ …pe… ghānindriyaṁ …pe… jivhindriyaṁ …pe… kāyindriyaṁ …pe… manindriyaṁ pajānanti, manindriyasamudayaṁ pajānanti, manindriyanirodhaṁ pajānanti, manindriyanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānanti, te kho me, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā samaṇesu ceva samaṇasammatā brāhmaṇesu ca brāhmaṇasammatā, te ca panāyasmanto sāmaññatthañca brahmaññatthañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharantī”ti.
Dasamaṁ.
There are ascetics and brahmins who do understand the eye faculty, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation. They understand the ear faculty … nose faculty … tongue faculty … body faculty … mind faculty, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation. I deem them as true ascetics and brahmins. Those venerables realize the goal of life as an ascetic or brahmin, and live having realized it with their own insight.”
“Và này các Tỳ khưu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào biết rõ nhãn căn, biết rõ sự sanh khởi của nhãn căn, biết rõ sự đoạn diệt của nhãn căn, biết rõ con đường đưa đến sự đoạn diệt của nhãn căn; không biết rõ nhĩ căn... cho đến... không biết rõ thân căn... cho đến... biết rõ ý căn, biết rõ sự sanh khởi của ý căn, biết rõ sự đoạn diệt của ý căn, biết rõ con đường đưa đến sự đoạn diệt của ý căn, đối với Ta, này các Tỳ khưu, những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy được xem là Sa-môn giữa các Sa-môn, và là Bà-la-môn giữa các Bà-la-môn. Và những vị tôn giả ấy tự mình với thắng tri, chứng ngộ và thành tựu ngay trong hiện tại mà an trú mục đích của Sa-môn hạnh và mục đích của Bà-la-môn hạnh.” Kinh thứ mười.
Chaḷindriyavaggo tatiyo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Sáu Căn, thứ ba.
Punabbhavo jīvitaññāya, ekabījī ca suddhakaṁ; Soto arahasambuddho, dve ca samaṇabrāhmaṇāti.
Tái sanh, mạng căn, và vị khác, Nhất chủng tử và kinh thanh tịnh; Dự lưu, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, và hai kinh Sa-môn Bà-la-môn.