- Saṁyutta Nikāya 48.28
- 3. Chaḷindriyavagga
Bản dịch
SN 48.28 — Kinh Chánh Đẳng Giác
Sambuddhasutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, có sáu căn này. Thế nào là sáu? Nhãn căn … ý căn.
Vi-n 3 Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, Ta chưa như thật chứng tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi sáu căn này, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, Ta không biết rõ ý nghĩa về sự chứng ngộ vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đối với các thế giới, như Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với các chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, Ta như thật chứng tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi sáu căn này, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, Ta mới nhận biết rõ ý nghĩa về sự chứng ngộ vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đối với các thế giới, như Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với các chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 48.28
- 3. The Six Faculties
Awakened
8. Kinh Chánh Đẳng Giác
“Chayimāni, bhikkhave, indriyāni. Katamāni cha? Cakkhundriyaṁ, sotindriyaṁ, ghānindriyaṁ, jivhindriyaṁ, kāyindriyaṁ, manindriyaṁ.
Yāvakīvañcāhaṁ, bhikkhave, imesaṁ channaṁ indriyānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ nābbhaññāsiṁ, neva tāvāhaṁ, bhikkhave, sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya ‘anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambuddho’ti paccaññāsiṁ.
Yato ca khvāhaṁ, bhikkhave, imesaṁ channaṁ indriyānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ, athāhaṁ, bhikkhave, sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya ‘anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambuddho’ti paccaññāsiṁ.
Ñāṇañca pana me dassanaṁ udapādi: ‘akuppā me vimutti, ayamantimā jāti, natthi dāni punabbhavo’”ti.
Aṭṭhamaṁ.
“Mendicants, there are these six faculties. What six? The faculties of the eye, ear, nose, tongue, body, and mind.
As long as I didn’t truly understand these six faculties’ origin, disappearance, gratification, drawback, and escape, I didn’t announce my supreme perfect awakening in this world with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans.
But when I did truly understand these six faculties’ origin, disappearance, gratification, drawback, and escape, I announced my supreme perfect awakening in this world with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans.
Knowledge and vision arose in me: ‘My freedom is unshakable; this is my last rebirth; now there’ll be no more future lives.’”
498. “Này các Tỳ khưu, có sáu căn này. Thế nào là sáu? Nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn, ý căn. Này các Tỳ khưu, khi nào Như Lai chưa như thật thắng tri sự sanh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, và sự xuất ly của sáu căn này, thì này các Tỳ khưu, khi ấy Như Lai không xác nhận đã chứng ngộ vô thượng chánh đẳng giác trong thế giới này cùng với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người. Và này các Tỳ khưu, khi nào Như Lai đã như thật thắng tri sự sanh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, và sự xuất ly của sáu căn này, thì này các Tỳ khưu, khi ấy Như Lai xác nhận đã chứng ngộ vô thượng chánh đẳng giác trong thế giới này cùng với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người. Tri và kiến đã khởi lên nơi Như Lai: ‘Sự giải thoát của ta là bất động. Đây là đời sống cuối cùng. Nay không còn tái sanh nữa.’” Kinh thứ tám.