- Saṁyutta Nikāya 47.51–62
- 6. Gaṅgāpeyyālavagga
Bản dịch
SN 47.51-62 — Gaṅgānadīādisuttadvādasaka
Gaṅgānadīādisuttadvādasaka
(Ðoạn này và bốn mục kế tiếp, cho đến cuối Tương Ưng này, đều được tóm tắt trong nguyên bản, chỉ có tên kinh mà thôi, trừ SN 45.91–102)
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Ví như sông Hằng, này các Tỷ-kheo, thiên về phương Ðông, hướng về phương Ðông … Cũng vậy, Tỷ-kheo tu tập bốn niệm xứ … xuôi về Niết-bàn.
Vi-n 3 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo … Niết-bàn?
Vi-n 4 Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân … trú, quán thọ trên các cảm thọ … trú, quán tâm trên tâm … trú, quán pháp trên các pháp … Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo … xuôi về Niết-bàn.
(Tóm tắt các đề kinh)
(Sáu hướng về Ðông và sáu hướng về biển. Hai lần sáu thành mười hai, và mục này được gọi là như vậy. Các kinh được thuyết rộng về bốn niệm xứ, như các kinh trước).
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh and Aminah Borg-Luck.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 47.51–62
- 6. Abbreviated Texts on the Ganges
Twelve Discourses on the Ganges River, Etc.
1-12. Mười hai kinh bắt đầu với kinh Sông Hằng
“Seyyathāpi, bhikkhave, gaṅgā nadī pācīnaninnā pācīnapoṇā pācīnapabbhārā; evameva kho, bhikkhave, bhikkhu cattāro satipaṭṭhāne bhāvento cattāro satipaṭṭhāne bahulīkaronto nibbānaninno hoti nibbānapoṇo nibbānapabbhāro.
“Mendicants, the Ganges River slants, slopes, and inclines to the east. In the same way, a mendicant who develops and cultivates the four kinds of mindfulness meditation slants, slopes, and inclines to extinguishment.
417-428. Này các tỳ khưu, ví như sông Hằng xuôi về phương đông, hướng về phương đông, nghiêng về phương đông; cũng vậy, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu tu tập bốn niệm xứ, làm cho sung mãn bốn niệm xứ, thì xuôi về Niết Bàn, hướng về Niết Bàn, nghiêng về Niết Bàn.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu cattāro satipaṭṭhāne bhāvento cattāro satipaṭṭhāne bahulīkaronto nibbānaninno hoti nibbānapoṇo nibbānapabbhāro? Idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ; vedanāsu …pe… citte …pe… dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu cattāro satipaṭṭhāne bhāvento cattāro satipaṭṭhāne bahulīkaronto nibbānaninno hoti nibbānapoṇo nibbānapabbhāro”ti vitthāretabbaṁ.
And how does a mendicant who develops the four kinds of mindfulness meditation slant, slope, and incline to extinguishment? It’s when a mendicant meditates by observing an aspect of the body—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. They meditate observing an aspect of feelings … mind … principles—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world.
That’s how a mendicant who develops and cultivates the four kinds of mindfulness meditation slants, slopes, and inclines to extinguishment.”
Và này các tỳ khưu, thế nào là vị tỳ khưu tu tập bốn niệm xứ, làm cho sung mãn bốn niệm xứ, thì xuôi về Niết Bàn, hướng về Niết Bàn, nghiêng về Niết Bàn? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu trú quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu ở đời; ở nơi các cảm thọ... (như trên)... ở nơi tâm... (như trên)... ở nơi các pháp, vị ấy trú quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu ở đời. Này các tỳ khưu, chính như vậy, vị tỳ khưu tu tập bốn niệm xứ, làm cho sung mãn bốn niệm xứ, thì xuôi về Niết Bàn, hướng về Niết Bàn, nghiêng về Niết Bàn. (Cần được trình bày chi tiết).
Gaṅgāpeyyālavaggo chaṭṭho.
Tassuddānaṁ
Phẩm Sông Hằng Dạng Tỉnh Lược, thứ sáu.
Cha pācīnato ninnā, cha ninnā ca samuddato; Ete dve cha dvādasa honti, vaggo tena pavuccatīti.
Six on slanting to the east, and six on slanting to the ocean; these two sixes make twelve, and that’s how this chapter is recited.
Sáu kinh xuôi về phương đông, và sáu kinh xuôi về biển cả; hai nhóm sáu này thành mười hai, do đó được gọi là một phẩm.