- Saṁyutta Nikāya 46.52
- 6. Sākacchavagga
Bản dịch
SN 46.52 — Kinh Pariyāya (Phương Pháp)
Pariyāyasutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 Rồi một số đông Tỷ-kheo, vào buổi sáng, đắp y, mang y bát đi vào Sāvatthi để khất thực.
Vi-n 3 Rồi các Tỷ-kheo ấy suy nghĩ: “Nay còn quá sớm để đi vào Sāvatthi khất thực, vậy chúng ta hãy đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo”.
Vi-n 4 Rồi các Tỷ-kheo ấy đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo; sau khi đến, nói lên với các du sĩ ngoại đạo những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Các du sĩ ngoại đạo nói với các Tỷ-kheo đang ngồi một bên:
Vi-n 5 —Này chư Hiền, Sa-môn Gotama có thuyết pháp như sau cho các đệ tử: “Hãy đến, này các Tỷ-kheo, sau khi đoạn tận năm triền cái là những pháp làm uế nhiễm tâm, làm yếu ớt trí tuệ, hãy như thật tu tập bảy giác chi”. Này chư Hiền, chúng tôi cũng thuyết pháp như vậy cho các đệ tử: “Hãy đến, này chư Hiền, sau khi đoạn tận năm triền cái là những pháp làm uế nhiễm tâm, làm yếu ớt trí tuệ, hãy như thật tu tập bảy giác chi”.
Vi-n 6 Ở đây, này chư Hiền, cái gì là đặc thù (viseso), cái gì là thù thắng (abhippayo), cái gì là sai biệt giữa Sa-môn Gotama và chúng tôi, tức là về thuyết pháp hay về giáo giới?
Vi-n 7 Rồi các Tỷ-kheo ấy không hoan hỷ, không bác bỏ lời nói của các du sĩ ngoại đạo ấy; không hoan hỷ, không bác bỏ, từ chỗ ngồi đứng dậy họ ra đi với ý nghĩ: “Chúng ta sẽ được biết ý nghĩa lời nói này từ nơi Thế Tôn”.
Vi-n 8 Rồi các Tỷ-kheo ấy, sau khi đi khất thực ở Sāvatthi, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 9 Ngồi một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát và đi vào Sāvatthi để khất thực. Bạch Thế Tôn, rồi chúng con suy nghĩ: “Nay còn quá sớm để đi vào Sāvatthi khất thực. Vậy chúng ta hãy đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo”. Rồi, bạch Thế Tôn, chúng con đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo; sau khi đến, nói lên với các du sĩ ngoại đạo những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Rồi bạch Thế Tôn, các du sĩ ngoại đạo ấy nói với chúng con đang ngồi một bên: “Này chư Hiền, Sa-môn Gotama thuyết pháp như sau … tức là về thuyết pháp hay về giáo giới?”
Vi-n 10 Rồi, bạch Thế Tôn, chúng con không tán thán, không bác bỏ lời nói các du sĩ ngoại đạo ấy; không hoan hỷ, không bác bỏ, từ chỗ ngồi đứng dậy chúng con ra đi với ý nghĩ: “Chúng ta sẽ được hiểu lời nói này từ Thế Tôn”.
Vi-n 11 —Ðược nói vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải trả lời với các du sĩ ngoại đạo như sau: “Này chư Hiền, có pháp môn nào, do pháp môn ấy, năm triền cái được trở thành mười, bảy giác chi được trở thành mười bốn?” Ðược đáp như vậy, này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo sẽ không thể cắt nghĩa được, sẽ rơi vào khó khăn.
Vi-n 12 Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, vấn đề này vượt ngoài giới vức của họ. Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một ai ở Thiên giới, thế giới này, ở Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người có thể làm thỏa mãn tâm với câu trả lời cho những câu hỏi này, ngoại trừ Như Lai, hay đệ tử Như Lai, hay những ai được nghe từ hai vị ấy.
Năm Trở Thành Mười
Vi-n 13 —Và này các Tỷ-kheo, pháp môn nào, do y cứ pháp môn ấy, năm triền cái trở thành mười?
Vi-n 14 Cái gì thuộc nội dục tham, này các Tỷ-kheo, cái ấy là triền cái. Cái gì thuộc ngoại dục tham, cái ấy là triền cái. Gọi là dục tham triền cái là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn này nên thành hai.
Vi-n 15 Cái gì thuộc về nội sân, này các Tỷ-kheo, cái ấy là triền cái. Cái gì thuộc ngoại sân, cái ấy là triền cái. Gọi là sân triền cái là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn này nên thành hai.
Vi-n 16 Cái gì thuộc về nội hôn trầm thụy miên, này các Tỷ-kheo, cái ấy là triền cái. Cái gì thuộc ngoại hôn trầm thụy miên, cái ấy là triền cái. Gọi là hôn trầm thụy miên là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn này nên thành hai.
Vi-n 17 Cái gì thuộc nội trạo hối, này các Tỷ-kheo, cái ấy là triền cái. Cái gì thuộc ngoại trạo hối, cái ấy là triền cái. Gọi là trạo hối triền cái là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn này nên thành hai.
Vi-n 18 Cái gì thuộc về nội nghi hoặc, này các Tỷ-kheo, cái ấy là triền cái. Cái gì thuộc ngoại nghi hoặc, cái ấy là triền cái. Gọi là nghi hoặc triền cái là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn này nên thành hai.
Vi-n 19 Này các Tỷ-kheo, chính là pháp môn này, do pháp môn này, năm triền cái trở thành mười.
Bảy Trở Thành Mười Bốn
Vi-n 20 —Và này các Tỷ-kheo, pháp môn nào, do y cứ pháp môn ấy, bảy giác chi trở thành mười bốn?
Vi-n 21 Cái gì là niệm đối với nội pháp, này các Tỷ-kheo, cái ấy là niệm giác chi. Cái gì là niệm đối với ngoại pháp, cái ấy là niệm giác chi. Gọi là niệm giác chi là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn này nên thành hai.
Vi-n 22 Cái gì là quyết trạch, tư sát, quán sát với trí tuệ đối với các nội pháp, này các Tỷ-kheo, cái ấy là trạch pháp giác chi. Cái gì là quyết trạch, tư sát, quán sát đối với các ngoại pháp, cái ấy là trạch pháp giác chi. Gọi là trạch pháp giác chi là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn này nên thành hai.
Vi-n 23 Cái gì là thân tinh tấn, này các Tỷ-kheo, cái ấy là tinh tấn giác chi. Cái gì là tâm tinh tấn, cái ấy là tinh tấn giác chi. Gọi là tinh tấn giác chi là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn này nên thành hai.
Vi-n 24 Cái gì là hỷ có tầm, có tứ, này các Tỷ-kheo, cái ấy là hỷ giác chi. Cái gì là hỷ không tầm, không tứ, cái ấy là hỷ giác chi. Gọi là hỷ giác chi là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn này nên thành hai.
Vi-n 25 Cái gì là thân khinh an, này các Tỷ-kheo, cái ấy là khinh an giác chi. Cái gì là tâm khinh an, cái ấy là khinh an giác chi. Gọi là khinh an giác chi là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn này nên thành hai.
Vi-n 26 Cái gì là định có tầm, có tứ, này các Tỷ-kheo, cái ấy là định giác chi. Cái gì là định không tầm, không tứ, cái ấy là định giác chi. Gọi là định giác chi là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn này nên thành hai.
Vi-n 27 Cái gì là xả đối với các nội pháp, này các Tỷ-kheo, cái ấy là xả giác chi. Cái gì là xả đối với các ngoại pháp, cái ấy là xả giác chi. Gọi là xả giác chi là có ý nghĩa này. Chính do pháp môn này nên thành hai.
Vi-n 28 Này các Tỷ-kheo, chính là pháp môn này, y cứ pháp môn này, bảy giác chi trở thành mười bốn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh and Aminah Borg-Luck.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 46.52
- 6. Discussion
Is There a Way?
2. Kinh Pariyāya (Phương Pháp)
Atha kho sambahulā bhikkhū pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pavisiṁsu. Atha kho tesaṁ bhikkhūnaṁ etadahosi: “atippago kho tāva sāvatthiyaṁ piṇḍāya carituṁ. Yannūna mayaṁ yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkameyyāmā”ti.
Then several mendicants robed up in the morning and, taking their bowls and robes, entered Sāvatthī for alms. Then it occurred to him, “It’s too early to wander for alms in Sāvatthī. Why don’t we visit the monastery for the wanderers of other religions?”
233. Khi ấy, một số đông các tỳ khưu vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, vào thành Sāvatthī để khất thực. Rồi các tỳ khưu ấy suy nghĩ như sau: “Còn quá sớm để đi khất thực ở Sāvatthī. Hay là chúng ta đi đến tu viện của các du sĩ ngoại đạo.”
Atha kho te bhikkhū yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā tehi aññatitthiyehi paribbājakehi saddhiṁ sammodiṁsu. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinne kho te bhikkhū aññatitthiyā paribbājakā etadavocuṁ:
Then they went to the monastery for the wanderers of other religions and exchanged greetings with the wanderers there. When the greetings and polite conversation were over, they sat down to one side. The wanderers said to them:
Rồi các tỳ khưu ấy đi đến tu viện của các du sĩ ngoại đạo. Sau khi đến, họ cùng với các du sĩ ngoại đạo ấy trao đổi lời chào hỏi thân thiện. Sau khi trao đổi lời chào hỏi thân thiện và đáng ghi nhớ, họ ngồi xuống một bên. Khi các tỳ khưu ấy đang ngồi một bên, các du sĩ ngoại đạo nói với họ như sau:
“Samaṇo, āvuso, gotamo sāvakānaṁ evaṁ dhammaṁ deseti: ‘etha tumhe, bhikkhave, pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe satta bojjhaṅge yathābhūtaṁ bhāvethā’ti. Mayampi kho, āvuso, sāvakānaṁ evaṁ dhammaṁ desema: ‘etha tumhe, āvuso, pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe satta bojjhaṅge yathābhūtaṁ bhāvethā’ti. Idha no, āvuso, ko viseso, ko adhippayāso, kiṁ nānākaraṇaṁ samaṇassa vā gotamassa amhākaṁ vā, yadidaṁ—dhammadesanāya vā dhammadesanaṁ, anusāsaniyā vā anusāsanin”ti?
“Reverends, the ascetic Gotama teaches his disciples like this: ‘Mendicants, please give up the five hindrances—corruptions of the heart that weaken wisdom—and truly develop the seven awakening factors.’ We too teach our disciples: ‘Reverends, please give up the five hindrances—corruptions of the heart that weaken wisdom—and truly develop the seven awakening factors.’ What, then, is the difference between the ascetic Gotama’s teaching and instruction and ours?”
“Này chư hiền, Sa-môn Gotama thuyết pháp cho các đệ tử như vầy: ‘Này các tỳ khưu, hãy đến, các ông hãy từ bỏ năm triền cái, là những cấu uế của tâm, làm trí tuệ yếu kém, và hãy tu tập bảy giác chi như thật.’ Này chư hiền, chúng tôi cũng thuyết pháp cho các đệ tử như vầy: ‘Này chư hiền, hãy đến, các ông hãy từ bỏ năm triền cái, là những cấu uế của tâm, làm trí tuệ yếu kém, và hãy tu tập bảy giác chi như thật.’ Vậy thì, này chư hiền, ở đây có gì khác biệt, có gì đặc biệt, có gì dị biệt giữa Sa-môn Gotama và chúng tôi, tức là, về phương diện thuyết pháp và về phương diện giáo huấn?’”
Atha kho te bhikkhū tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ bhāsitaṁ neva abhinandiṁsu nappaṭikkosiṁsu; anabhinanditvā appaṭikkositvā uṭṭhāyāsanā pakkamiṁsu:
“bhagavato santike etassa bhāsitassa atthaṁ ājānissāmā”ti. Atha kho te bhikkhū sāvatthiṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkantā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
Those mendicants neither approved nor rejected that statement of the wanderers of other religions. They rose from their seats, thinking:
“We will learn the meaning of this statement from the Buddha himself.” Then, after the meal, when they returned from almsround, they went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened.
Khi ấy, các tỳ khưu ấy không hoan nghênh cũng không phản đối lời nói của các du sĩ ngoại đạo ấy. Không hoan nghênh, không phản đối, họ đứng dậy khỏi chỗ ngồi và ra đi, với ý nghĩ: “Chúng ta sẽ hiểu ý nghĩa của lời nói này nơi sự hiện diện của Thế Tôn.” Rồi các tỳ khưu ấy, sau khi đi khất thực ở Sāvatthī, sau bữa ăn, khi đã trở về từ chuyến khất thực, liền đi đến chỗ Thế Tôn. Sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, các tỳ khưu ấy bạch với Thế Tôn như sau:
“Idha mayaṁ, bhante, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pavisimha. Tesaṁ no, bhante, amhākaṁ etadahosi: ‘atippago kho tāva sāvatthiyaṁ piṇḍāya carituṁ, yannūna mayaṁ yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkameyyāmā’ti. Atha kho mayaṁ, bhante, yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkamimha; upasaṅkamitvā tehi aññatitthiyehi paribbājakehi saddhiṁ sammodimha. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdimha. Ekamantaṁ nisinne kho amhe, bhante, aññatitthiyā paribbājakā etadavocuṁ:
“Bạch Thế Tôn, ở đây vào buổi sáng, chúng con đắp y, cầm bát và y, đi vào Sāvatthī để khất thực. Bạch Thế Tôn, rồi chúng con có ý nghĩ này: ‘Còn quá sớm để đi khất thực ở Sāvatthī. Hay là chúng ta hãy đi đến tu viện của các du sĩ ngoại đạo.’ Rồi, bạch Thế Tôn, chúng con đã đi đến tu viện của các du sĩ ngoại đạo; sau khi đến, chúng con đã cùng với các du sĩ ngoại đạo ấy trao đổi lời chào hỏi thân thiện. Sau khi trao đổi lời chào hỏi thân thiện và đáng ghi nhớ, chúng con đã ngồi xuống một bên. Bạch Thế Tôn, khi chúng con đang ngồi một bên, các du sĩ ngoại đạo đã nói với chúng con như vầy:
‘Samaṇo, āvuso, gotamo sāvakānaṁ evaṁ dhammaṁ deseti “etha tumhe, bhikkhave, pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe satta bojjhaṅge yathābhūtaṁ bhāvethā”ti. Mayampi kho, āvuso, sāvakānaṁ evaṁ dhammaṁ desema: “etha tumhe, āvuso, pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe satta bojjhaṅge yathābhūtaṁ bhāvethā”ti. Idha no, āvuso, ko viseso, ko adhippayāso, kiṁ nānākaraṇaṁ samaṇassa vā gotamassa amhākaṁ vā, yadidaṁ—dhammadesanāya vā dhammadesanaṁ, anusāsaniyā vā anusāsanin’ti?
“‘Này chư hiền, Sa-môn Gotama thuyết pháp cho các đệ tử như vầy: “Này các tỳ-khưu, hãy đến, các ông hãy từ bỏ năm triền cái, là những cấu uế của tâm, làm trí tuệ yếu kém, và hãy tu tập bảy giác chi như thật.” Này chư hiền, chúng tôi cũng thuyết pháp cho các đệ tử như vầy: “Này chư hiền, hãy đến, các ông hãy từ bỏ năm triền cái, là những cấu uế của tâm, làm trí tuệ yếu kém, và hãy tu tập bảy giác chi như thật.” Vậy thì, này chư hiền, ở đây có sự đặc biệt gì, có sự thâm sâu gì, có sự dị biệt gì giữa Sa-môn Gotama và chúng tôi, tức là giữa thuyết pháp với thuyết pháp, giữa giáo huấn với giáo huấn?’”
Atha kho mayaṁ, bhante, tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ bhāsitaṁ neva abhinandimha nappaṭikkosimha, anabhinanditvā appaṭikkositvā uṭṭhāyāsanā pakkamimha: ‘bhagavato santike etassa bhāsitassa atthaṁ ājānissāmā’”ti.
“Rồi, bạch Thế Tôn, chúng con không hoan nghênh cũng không phản đối lời nói của các du sĩ ngoại đạo ấy. Không hoan nghênh, không phản đối, chúng con đứng dậy khỏi chỗ ngồi và ra đi, với ý nghĩ: ‘Chúng ta sẽ hiểu ý nghĩa của lời nói này nơi sự hiện diện của Thế Tôn.’”
“Evaṁvādino, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā: ‘atthi panāvuso, pariyāyo, yaṁ pariyāyaṁ āgamma pañca nīvaraṇā dasa honti, satta bojjhaṅgā catuddasā’ti. Evaṁ puṭṭhā, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā na ceva sampāyissanti, uttariñca vighātaṁ āpajjissanti. Taṁ kissa hetu? Yathā taṁ, bhikkhave, avisayasmiṁ. Nāhaṁ taṁ, bhikkhave, passāmi sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya, yo imesaṁ pañhānaṁ veyyākaraṇena cittaṁ ārādheyya, aññatra tathāgatena vā tathāgatasāvakena vā ito vā pana sutvā.
“Mendicants, when wanderers of other religions say this, you should say to them: ‘But reverends, is there a way in which the five hindrances become ten and the seven awakening factors become fourteen?’ Questioned like this, the wanderers of other religions would be stumped, and, in addition, would get frustrated. Why is that? Because they’re out of their element. I don’t see anyone in this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans—who could provide a satisfying answer to these questions except the Realized One or his disciple or someone who has heard it from them.
“Này các tỳ khưu, các du sĩ ngoại đạo có quan điểm như vậy cần được nói như vầy: ‘Này chư hiền, có phương pháp nào mà do phương pháp ấy, năm triền cái trở thành mười, bảy giác chi trở thành mười bốn không?’ Này các tỳ khưu, khi được hỏi như vậy, các du sĩ ngoại đạo sẽ không thể trả lời được, và hơn nữa sẽ gặp phải sự khốn khổ. Vì sao vậy? Này các tỳ khưu, vì điều ấy không thuộc phạm vi của họ. Này các tỳ khưu, Ta không thấy một ai trong thế gian này, gồm cả chư thiên, ma vương, phạm thiên, cùng với chúng sa-môn, bà-la-môn, chư thiên và loài người, có thể làm cho tâm hài lòng bằng cách giải đáp những câu hỏi này, ngoại trừ Như Lai, hoặc đệ tử của Như Lai, hoặc người đã nghe từ đây.”
Katamo ca, bhikkhave, pariyāyo, yaṁ pariyāyaṁ āgamma pañca nīvaraṇā dasa honti? Yadapi, bhikkhave, ajjhattaṁ kāmacchando tadapi nīvaraṇaṁ, yadapi bahiddhā kāmacchando tadapi nīvaraṇaṁ. ‘Kāmacchandanīvaraṇan’ti iti hidaṁ uddesaṁ gacchati. Tadamināpetaṁ pariyāyena dvayaṁ hoti. Yadapi, bhikkhave, ajjhattaṁ byāpādo tadapi nīvaraṇaṁ, yadapi bahiddhā byāpādo tadapi nīvaraṇaṁ. ‘Byāpādanīvaraṇan’ti iti hidaṁ uddesaṁ gacchati. Tadamināpetaṁ pariyāyena dvayaṁ hoti. Yadapi, bhikkhave, thinaṁ tadapi nīvaraṇaṁ, yadapi middhaṁ tadapi nīvaraṇaṁ. ‘Thinamiddhanīvaraṇan’ti iti hidaṁ uddesaṁ gacchati. Tadamināpetaṁ pariyāyena dvayaṁ hoti. Yadapi, bhikkhave, uddhaccaṁ tadapi nīvaraṇaṁ, yadapi kukkuccaṁ tadapi nīvaraṇaṁ. ‘Uddhaccakukkuccanīvaraṇan’ti iti hidaṁ uddesaṁ gacchati. Tadamināpetaṁ pariyāyena dvayaṁ hoti. Yadapi, bhikkhave, ajjhattaṁ dhammesu vicikicchā tadapi nīvaraṇaṁ, yadapi bahiddhā dhammesu vicikicchā tadapi nīvaraṇaṁ. ‘Vicikicchānīvaraṇan’ti iti hidaṁ uddesaṁ gacchati. Tadamināpetaṁ pariyāyena dvayaṁ hoti. Ayaṁ kho, bhikkhave, pariyāyo, yaṁ pariyāyaṁ āgamma pañca nīvaraṇā dasa honti.
And what is the way in which the five hindrances become ten? Sensual desire for what is internal is a hindrance; and sensual desire for what is external is also a hindrance. That’s how what is concisely referred to as ‘the hindrance of sensual desire’ becomes twofold. Ill will for what is internal is a hindrance; and ill will for what is external is also a hindrance. That’s how what is concisely referred to as ‘the hindrance of ill will’ becomes twofold. Dullness is a hindrance; and drowsiness is also a hindrance. That’s how what is concisely referred to as ‘the hindrance of dullness and drowsiness’ becomes twofold. Restlessness is a hindrance; and remorse is also a hindrance. That’s how what is concisely referred to as ‘the hindrance of restlessness and remorse’ becomes twofold. Doubt about internal things is a hindrance; and doubt about external things is also a hindrance. That’s how what is concisely referred to as ‘the hindrance of doubt’ becomes twofold. This is the way in which the five hindrances become ten.
“Này các tỳ khưu, phương pháp nào mà do phương pháp ấy, năm triền cái trở thành mười? Này các tỳ khưu, tham dục bên trong cũng là triền cái, tham dục bên ngoài cũng là triền cái. ‘Triền cái tham dục’ là cách gọi chung cho cả hai. Do phương pháp này, nó trở thành hai. Này các tỳ khưu, sân hận bên trong cũng là triền cái, sân hận bên ngoài cũng là triền cái. ‘Triền cái sân hận’ là cách gọi chung cho cả hai. Do phương pháp này, nó trở thành hai. Này các tỳ khưu, hôn trầm cũng là triền cái, thụy miên cũng là triền cái. ‘Triền cái hôn trầm-thụy miên’ là cách gọi chung cho cả hai. Do phương pháp này, nó trở thành hai. Này các tỳ khưu, trạo cử cũng là triền cái, hối quá cũng là triền cái. ‘Triền cái trạo cử-hối quá’ là cách gọi chung cho cả hai. Do phương pháp này, nó trở thành hai. Này các tỳ khưu, hoài nghi về các pháp bên trong cũng là triền cái, hoài nghi về các pháp bên ngoài cũng là triền cái. ‘Triền cái hoài nghi’ là cách gọi chung cho cả hai. Do phương pháp này, nó trở thành hai. Này các tỳ khưu, đây chính là phương pháp mà do phương pháp ấy, năm triền cái trở thành mười.”
Katamo ca, bhikkhave, pariyāyo, yaṁ pariyāyaṁ āgamma satta bojjhaṅgā catuddasa honti? Yadapi, bhikkhave, ajjhattaṁ dhammesu sati tadapi satisambojjhaṅgo, yadapi bahiddhā dhammesu sati tadapi satisambojjhaṅgo. ‘Satisambojjhaṅgo’ti iti hidaṁ uddesaṁ gacchati. Tadamināpetaṁ pariyāyena dvayaṁ hoti.
And what is the way in which the seven awakening factors become fourteen? Mindfulness of internal things is the awakening factor of mindfulness; and mindfulness of external things is also the awakening factor of mindfulness. That’s how what is concisely referred to as ‘the awakening factor of mindfulness’ becomes twofold.
“Này các tỳ khưu, phương pháp nào mà do phương pháp ấy, bảy giác chi trở thành mười bốn? Này các tỳ khưu, niệm về các pháp bên trong cũng là niệm giác chi, niệm về các pháp bên ngoài cũng là niệm giác chi. ‘Niệm giác chi’ là cách gọi chung cho cả hai. Do phương pháp này, nó trở thành hai.”
Yadapi, bhikkhave, ajjhattaṁ dhammesu paññāya pavicinati pavicarati parivīmaṁsamāpajjati tadapi dhammavicayasambojjhaṅgo, yadapi bahiddhā dhammesu paññāya pavicinati pavicarati parivīmaṁsamāpajjati tadapi dhammavicayasambojjhaṅgo. ‘Dhammavicayasambojjhaṅgo’ti iti hidaṁ uddesaṁ gacchati. Tadamināpetaṁ pariyāyena dvayaṁ hoti.
Investigating, exploring, and inquiring into internal things with wisdom is the awakening factor of investigation of principles; and investigating, exploring, and inquiring into external things with wisdom is also the awakening factor of investigation of principles. That’s how what is concisely referred to as ‘the awakening factor of investigation of principles’ becomes twofold.
“Này các tỳ khưu, dùng trí tuệ để thẩm sát, quán sát, đi đến sự thẩm xét các pháp bên trong cũng là trạch pháp giác chi; dùng trí tuệ để thẩm sát, quán sát, đi đến sự thẩm xét các pháp bên ngoài cũng là trạch pháp giác chi. ‘Trạch pháp giác chi’ là cách gọi chung cho cả hai. Do phương pháp này, nó trở thành hai.”
Yadapi, bhikkhave, kāyikaṁ vīriyaṁ tadapi vīriyasambojjhaṅgo, yadapi cetasikaṁ vīriyaṁ tadapi vīriyasambojjhaṅgo. ‘Vīriyasambojjhaṅgo’ti iti hidaṁ uddesaṁ gacchati. Tadamināpetaṁ pariyāyena dvayaṁ hoti.
Physical energy is the awakening factor of energy; and mental energy is also the awakening factor of energy. That’s how what is concisely referred to as ‘the awakening factor of energy’ becomes twofold.
“Này các tỳ khưu, tinh tấn thuộc về thân cũng là tinh tấn giác chi, tinh tấn thuộc về tâm cũng là tinh tấn giác chi. ‘Tinh tấn giác chi’ là cách gọi chung cho cả hai. Do phương pháp này, nó trở thành hai.”
Yadapi, bhikkhave, savitakkasavicārā pīti tadapi pītisambojjhaṅgo, yadapi avitakkaavicārā pīti tadapi pītisambojjhaṅgo. ‘Pītisambojjhaṅgo’ti iti hidaṁ uddesaṁ gacchati. Tadamināpetaṁ pariyāyena dvayaṁ hoti.
Rapture while placing the mind and keeping it connected is the awakening factor of rapture; and rapture without placing the mind and keeping it connected is also the awakening factor of rapture. In this way what is concisely referred to as ‘the awakening factor of rapture’ becomes twofold.
“Này các tỳ khưu, hỷ có tầm có tứ cũng là hỷ giác chi, hỷ không tầm không tứ cũng là hỷ giác chi. ‘Hỷ giác chi’ là cách gọi chung cho cả hai. Do phương pháp này, nó trở thành hai.”
Yadapi, bhikkhave, kāyappassaddhi tadapi passaddhisambojjhaṅgo, yadapi cittappassaddhi tadapi passaddhisambojjhaṅgo. ‘Passaddhisambojjhaṅgo’ti iti hidaṁ uddesaṁ gacchati. Tadamināpetaṁ pariyāyena dvayaṁ hoti.
Physical tranquility is the awakening factor of tranquility; and mental tranquility is also the awakening factor of tranquility. In this way what is concisely referred to as ‘the awakening factor of tranquility’ becomes twofold.
“Này các tỳ khưu, thân khinh an cũng là khinh an giác chi, tâm khinh an cũng là khinh an giác chi. ‘Khinh an giác chi’ là cách gọi chung cho cả hai. Do phương pháp này, nó trở thành hai.”
Yadapi, bhikkhave, savitakko savicāro samādhi tadapi samādhisambojjhaṅgo, yadapi avitakkaavicāro samādhi tadapi samādhisambojjhaṅgo. ‘Samādhisambojjhaṅgo’ti iti hidaṁ uddesaṁ gacchati. Tadamināpetaṁ pariyāyena dvayaṁ hoti.
Immersion while placing the mind and keeping it connected is the awakening factor of immersion; and immersion without placing the mind and keeping it connected is also the awakening factor of immersion. In this way what is concisely referred to as ‘the awakening factor of immersion’ becomes twofold.
“Này các tỳ khưu, định có tầm có tứ cũng là định giác chi, định không tầm không tứ cũng là định giác chi. ‘Định giác chi’ là cách gọi chung cho cả hai. Do phương pháp này, nó trở thành hai.”
Yadapi, bhikkhave, ajjhattaṁ dhammesu upekkhā tadapi upekkhāsambojjhaṅgo, yadapi bahiddhā dhammesu upekkhā tadapi upekkhāsambojjhaṅgo. ‘Upekkhāsambojjhaṅgo’ti iti hidaṁ uddesaṁ gacchati. Tadamināpetaṁ pariyāyena dvayaṁ hoti. Ayaṁ kho, bhikkhave, pariyāyo, yaṁ pariyāyaṁ āgamma satta bojjhaṅgā catuddasā”ti.
Dutiyaṁ.
Equanimity for internal things is the awakening factor of equanimity; and equanimity for external things is also the awakening factor of equanimity. In this way what is concisely referred to as ‘the awakening factor of equanimity’ becomes twofold. This is the way in which the seven awakening factors become fourteen.”
“Này các tỳ khưu, xả đối với các pháp bên trong cũng là xả giác chi, xả đối với các pháp bên ngoài cũng là xả giác chi. ‘Xả giác chi’ là cách gọi chung cho cả hai. Do phương pháp này, nó trở thành hai. Này các tỳ khưu, đây chính là phương pháp mà do phương pháp ấy, bảy giác chi trở thành mười bốn.” Kinh thứ hai.