- Saṁyutta Nikāya 46.1
- 1. Pabbatavagga
Bản dịch
SN 46.1 — Kinh Hy-mã-lạp-sơn
Himavantasutta
Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Thế Tôn nói như sau:
Vi-n 3 —Y cứ vào vua núi Tuyết sơn, này các Tỷ-kheo, các loài rắn lớn tăng trưởng tự thân, thâu hoạch sức mạnh. Ở đấy, khi chúng tăng trưởng tự thân, thâu hoạch sức mạnh, chúng đi xuống các hồ nhỏ. Sau khi xuống các hồ nhỏ, chúng đi xuống các hồ lớn. Sau khi đi xuống các hồ lớn, chúng đi xuống các sông nhỏ. Sau khi đi xuống các sông nhỏ, chúng đi xuống các sông lớn. Sau khi đi xuống các sông lớn, chúng đi ra biển, ra đại dương. Tại đấy, thân của chúng được to lớn và quảng đại hơn.
Vi-n 4 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo y cứ vào giới, an trú vào giới, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi, đạt được sự to lớn, sự quảng đại trong các pháp. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo y cứ vào giới, an trú vào giới, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi, đạt được sự to lớn, sự quảng đại trong các pháp?
Vi-n 5 Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Tỷ-kheo tu tập trạch pháp giác chi … tu tập tinh tấn giác chi … tu tập hỷ giác chi … tu tập khinh an giác chi … tu tập định giác chi … tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.
Vi-n 6 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo y cứ vào giới, an trú vào giới, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi, đạt được sự to lớn, sự quảng đại trong các pháp.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 46.1
- 1. Mountains
The Himalaya
1. Kinh Hy-mã-lạp-sơn
Sāvatthinidānaṁ.
“Seyyathāpi, bhikkhave, himavantaṁ pabbatarājānaṁ nissāya nāgā kāyaṁ vaḍḍhenti, balaṁ gāhenti; te tattha kāyaṁ vaḍḍhetvā balaṁ gāhetvā kusobbhe otaranti, kusobbhe otaritvā mahāsobbhe otaranti, mahāsobbhe otaritvā kunnadiyo otaranti, kunnadiyo otaritvā mahānadiyo otaranti, mahānadiyo otaritvā mahāsamuddasāgaraṁ otaranti; te tattha mahantattaṁ vepullattaṁ āpajjanti kāyena;
evameva kho, bhikkhave, bhikkhu sīlaṁ nissāya sīle patiṭṭhāya satta bojjhaṅge bhāvento satta bojjhaṅge bahulīkaronto mahantattaṁ vepullattaṁ pāpuṇāti dhammesu. Kathañca, bhikkhave, bhikkhu sīlaṁ nissāya sīle patiṭṭhāya satta bojjhaṅge bhāvento satta bojjhaṅge bahulīkaronto mahantattaṁ vepullattaṁ pāpuṇāti dhammesūti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu satisambojjhaṅgaṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ;
dhammavicayasambojjhaṅgaṁ bhāveti …pe…
vīriyasambojjhaṅgaṁ bhāveti …pe…
pītisambojjhaṅgaṁ bhāveti …pe…
passaddhisambojjhaṅgaṁ bhāveti …pe…
samādhisambojjhaṅgaṁ bhāveti …pe…
upekkhāsambojjhaṅgaṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu sīlaṁ nissāya sīle patiṭṭhāya satta bojjhaṅge bhāvento satta bojjhaṅge bahulīkaronto mahantattaṁ vepullattaṁ pāpuṇāti dhammesū”ti.
Paṭhamaṁ.
At Sāvatthī.
“Mendicants, dragons grow and wax strong supported by the Himalayas, the king of mountains. When they’re strong they dive into the pools. Then they dive into the lakes, the streams, the rivers, and finally the ocean. There they acquire a great and abundant body.
In the same way, a mendicant develops and cultivates the seven awakening factors depending on and grounded on ethics, acquiring great and abundant good qualities. And how does a mendicant develop the seven awakening factors depending on and grounded on ethics, acquiring great and abundant good qualities?
It’s when a mendicant develops the awakening factor of mindfulness, which relies on seclusion, fading away, and cessation, and ripens as letting go.
They develop the awakening factor of investigation of principles …
They develop the awakening factor of energy …
They develop the awakening factor of rapture …
They develop the awakening factor of tranquility …
They develop the awakening factor of immersion …
They develop the awakening factor of equanimity, which relies on seclusion, fading away, and cessation, and ripens as letting go.
That’s how a mendicant develops and cultivates the seven awakening factors depending on and grounded on ethics, acquiring great and abundant good qualities.”
182. Nhân duyên ở Sāvatthī. “Này các Tỳ khưu, ví như loài rồng nương vào vua núi Hy-mã-lạp-sơn, làm cho thân thể lớn mạnh, lấy sức; sau khi làm cho thân thể lớn mạnh, lấy sức ở đó, chúng đi xuống các ao nhỏ; sau khi đi xuống các ao nhỏ, chúng đi xuống các ao lớn; sau khi đi xuống các ao lớn, chúng đi xuống các sông nhỏ; sau khi đi xuống các sông nhỏ, chúng đi xuống các sông lớn; sau khi đi xuống các sông lớn, chúng đi xuống đại dương; ở đó, chúng đạt đến sự to lớn, rộng lớn về thân thể. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu y vào giới, an trú trong giới, khi tu tập bảy giác chi, khi làm cho sung mãn bảy giác chi, vị ấy đạt đến sự to lớn, rộng lớn trong các pháp. Và này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu y vào giới, an trú trong giới, khi tu tập bảy giác chi, khi làm cho sung mãn bảy giác chi, vị ấy đạt đến sự to lớn, rộng lớn trong các pháp? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu tu tập niệm giác chi y vào viễn ly, y vào ly tham, y vào sự đoạn diệt, hướng đến xả ly; tu tập trạch pháp giác chi... cho đến... tu tập tinh tấn giác chi... cho đến... tu tập hỷ giác chi... cho đến... tu tập khinh an giác chi... cho đến... tu tập định giác chi... cho đến... tu tập xả giác chi y vào viễn ly, y vào ly tham, y vào sự đoạn diệt, hướng đến xả ly. Này các Tỳ khưu, chính như vậy, vị Tỳ khưu y vào giới, an trú trong giới, khi tu tập bảy giác chi, khi làm cho sung mãn bảy giác chi, vị ấy đạt đến sự to lớn, rộng lớn trong các pháp.” (Kinh thứ nhất).