- Saṁyutta Nikāya 45.180
- 14. Oghavagga
Bản dịch
SN 45.180 — Kinh Uddhambhāgiya (Thượng Phần)
Uddhambhāgiyasutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Có năm thượng phần kiết sử này, này các Tỷ-kheo. Thế nào là năm? Sắc tham, vô sắc tham, mạn, trạo cử, vô minh. Này các Tỷ-kheo, đó là năm thượng phần kiết sử này. Chính vì mục đích thắng tri, liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận năm thượng phần kiết sử này, này các Tỷ-kheo, Thánh đạo Tám ngành này cần phải tu tập. Thế nào là Thánh đạo Tám ngành cần phải tu tập?
Vi-n 3-17. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến liên hệ đến viễn ly … tu tập chánh định liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Chính vì mục đích thắng tri, liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận năm thượng phần kiết sử này, này các Tỷ-kheo, Thánh đạo Tám ngành này cần phải tu tập.
Ví như, này các Tỷ-kheo, con sông Hằng …
Vi-n 18 Này các Tỷ-kheo, có năm thượng phần kiết sử. Thế nào là năm? Sắc tham, vô sắc tham, mạn, trạo cử, vô minh. Này các Tỷ-kheo, đó là năm thượng phần kiết sử này. Chính vì mục đích thắng tri, liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận năm thượng phần kiết sử này, Thánh đạo Tám ngành này cần phải tu tập. Thế nào là Thánh đạo Tám ngành cần phải tu tập?
Vi-n 19-33. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến … tu tập chánh định với cứu cánh là đoạn tận tham, với cứu cánh là đoạn tận sân, với cứu cánh là đoạn tận si … thể nhập vào bất tử, hướng đến bất tử, với cứu cánh là bất tử … thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn. Chính vì mục đích thắng tri, liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận năm thượng phần kiết sử này, này các Tỷ-kheo, Thánh đạo Tám ngành này cần phải tu tập.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh and Aminah Borg-Luck.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 45.180
- 14. Floods
Higher Fetters
10. Kinh Uddhambhāgiya (Thượng Phần)
“Pañcimāni, bhikkhave, uddhambhāgiyāni saṁyojanāni. Katamāni pañca? Rūparāgo, arūparāgo, māno, uddhaccaṁ, avijjā—imāni kho, bhikkhave, pañcuddhambhāgiyāni saṁyojanāni.
Imesaṁ kho, bhikkhave, pañcannaṁ uddhambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ abhiññāya pariññāya parikkhayāya pahānāya ariyo aṭṭhaṅgiko maggo bhāvetabbo. Katamo ariyo aṭṭhaṅgiko maggo? Idha, bhikkhave, bhikkhu sammādiṭṭhiṁ bhāveti vivekanissitaṁ …pe… sammāsamādhiṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ.
Imesaṁ kho, bhikkhave, pañcannaṁ uddhambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ abhiññāya pariññāya parikkhayāya pahānāya ayaṁ ariyo aṭṭhaṅgiko maggo bhāvetabboti.
“Mendicants, there are five higher fetters. What five? Desire for rebirth in the realm of luminous form, desire for rebirth in the formless realm, conceit, restlessness, and ignorance. These are the five higher fetters.
The noble eightfold path should be developed for the direct knowledge, complete understanding, finishing, and giving up of these five higher fetters. What is the noble eightfold path? It’s when a mendicant develops right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion, which rely on seclusion, fading away, and cessation, and ripen as letting go.
This is the noble eightfold path that should be developed for the direct knowledge, complete understanding, finishing, and giving up of these five higher fetters.”
181. “Này các Tỳ khưu, có năm thượng phần kiết sử này. Thế nào là năm? Sắc ái, vô sắc ái, mạn, trạo cử, vô minh – Này các Tỳ khưu, đây là năm thượng phần kiết sử. Này các Tỳ khưu, để thắng tri, để liễu tri, để đoạn tận, để đoạn trừ năm thượng phần kiết sử này, Thánh đạo Tám ngành cần phải được tu tập. Thánh đạo Tám ngành là gì? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu tu tập chánh kiến y vào viễn ly… cho đến… tu tập chánh định y vào viễn ly, y vào ly tham, y vào sự đoạn diệt, hướng đến xả ly. Này các Tỳ khưu, để thắng tri, để liễu tri, để đoạn tận, để đoạn trừ năm thượng phần kiết sử này, Thánh đạo Tám ngành này cần phải được tu tập.”
Pañcimāni, bhikkhave, uddhambhāgiyāni saṁyojanāni. Katamāni pañca? Rūparāgo, arūparāgo, māno, uddhaccaṁ, avijjā—imāni kho, bhikkhave, pañcuddhambhāgiyāni saṁyojanāni.
Imesaṁ kho, bhikkhave, pañcannaṁ uddhambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ abhiññāya pariññāya parikkhayāya pahānāya ariyo aṭṭhaṅgiko maggo bhāvetabbo. Katamo ariyo aṭṭhaṅgiko maggo? Idha, bhikkhave, bhikkhu sammādiṭṭhiṁ bhāveti …pe… sammāsamādhiṁ bhāveti rāgavinayapariyosānaṁ dosavinayapariyosānaṁ mohavinayapariyosānaṁ … amatogadhaṁ amataparāyanaṁ amatapariyosānaṁ … nibbānaninnaṁ nibbānapoṇaṁ nibbānapabbhāraṁ.
Imesaṁ kho, bhikkhave, pañcannaṁ uddhambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ abhiññāya pariññāya parikkhayāya pahānāya ayaṁ ariyo aṭṭhaṅgiko maggo bhāvetabbo”ti.
Dasamaṁ.
“Mendicants, there are five higher fetters. What five? Desire for rebirth in the realm of luminous form, desire for rebirth in the formless realm, conceit, restlessness, and ignorance. These are the five higher fetters.
The noble eightfold path should be developed for the direct knowledge, complete understanding, finishing, and giving up of these five higher fetters. What is the noble eightfold path? It’s when a mendicant develops right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion, which culminate in the removal of greed, hate, and delusion …” “… whose objective, destination, and culmination is freedom from death …” “… which slant, slope, and incline to extinguishment.
This is the noble eightfold path that should be developed for the direct knowledge, complete understanding, finishing, and giving up of these five higher fetters.”
“Này các Tỳ khưu, có năm thượng phần kiết sử này. Thế nào là năm? Sắc ái, vô sắc ái, mạn, trạo cử, vô minh – Này các Tỳ khưu, đây là năm thượng phần kiết sử. Này các Tỳ khưu, để thắng tri, để liễu tri, để đoạn tận, để đoạn trừ năm thượng phần kiết sử này, Thánh đạo Tám ngành cần phải được tu tập. Thánh đạo Tám ngành là gì? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu tu tập chánh kiến... cho đến... tu tập chánh định có sự điều phục tham làm cứu cánh, có sự điều phục sân làm cứu cánh, có sự điều phục si làm cứu cánh... đi sâu vào bất tử, có bất tử làm nơi nương tựa, có bất tử làm cứu cánh... hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn, nghiêng về Niết-bàn. Này các Tỳ khưu, để thắng tri, để liễu tri, để đoạn tận, để đoạn trừ năm thượng phần kiết sử này, Thánh đạo Tám ngành này cần phải được tu tập.” (Kinh thứ mười).
Oghavaggo aṭṭhamo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Bộc Lưu, thứ tám.
Ogho yogo upādānaṁ, ganthaṁ anusayena ca; Kāmaguṇā nīvaraṇaṁ, khandhā oruddhambhāgiyāti.
vagguddānaṁ
Bộc lưu, ách, thủ, triền, và tùy miên; Dục trưởng dưỡng, triền cái, uẩn, hạ phần.
Avijjāvaggo paṭhamo, dutiyaṁ vihāraṁ vuccati; Micchattaṁ tatiyo vaggo, catutthaṁ paṭipanneneva.
Phẩm Vô Minh là thứ nhất, thứ hai được gọi là An Trú; Phẩm Tà Tánh là thứ ba, thứ tư là Hạng Người Thực Hành.
Titthiyaṁ pañcamo vaggo, chaṭṭho sūriyena ca; Bahukate sattamo vaggo, uppādo aṭṭhamena ca.
Phẩm Ngoại Đạo là thứ năm, và thứ sáu là Mặt Trời; Phẩm Làm Nhiều là thứ bảy, và thứ tám là Sanh Khởi.
Divasavaggo navamo, Dasamo appamādena ca; Ekādasabalavaggo, Dvādasa esanā pāḷiyaṁ; Oghavaggo bhavati terasāti.
Phẩm Ban Ngày là thứ chín, và thứ mười là Không Dễ Dãi; Phẩm Sức Lực là mười một, mười hai là Tìm Cầu trong Thánh điển; Phẩm Bộc Lưu là thứ mười ba.
Maggasaṁyuttaṁ paṭhamaṁ.
The Linked Discourses on the Path, the first section.
Tương Ưng Đạo đã chấm dứt.