- Saṁyutta Nikāya 44.8
- 1. Abyākatavagga
Bản dịch
SN 44.8 — Kinh Vacchagotta
Vacchagottasutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 Rồi du sĩ Vacchagotta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi một bên, du sĩ Vacchagotta bạch Thế Tôn:
—Thưa Tôn giả Gotama, thế giới có phải là thường còn?
—Này Vaccha, Ta không có trả lời: “Thế giới là thường còn.”.
Vi-n 4-11.… (như trên) …
Vi-n 12 —Thưa Tôn giả Gotama, có phải Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?
—Này Vaccha, Ta không có trả lời: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 13 —Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì, các du sĩ ngoại đạo khi được hỏi như vậy, thời trả lời như vầy: “Thế giới là thường còn … Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”? Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, khi Tôn giả Gotama được hỏi như vậy, lại không trả lời: “Thế giới là thường còn … Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”?
Vi-n 14 —Này Vaccha, các du sĩ ngoại đạo quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Họ quán thọ như là tự ngã … quán tưởng … quán các hành … quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Do vậy, các du sĩ ngoại đạo khi được hỏi như vậy, liền trả lời như vầy: “Thế giới là thường còn … Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 15 Như Lai, này Vaccha, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, quán sắc không phải là tự ngã, hay tự ngã không phải có sắc, hay sắc không ở trong tự ngã, hay tự ngã không ở trong sắc. Như Lai quán thọ không phải tự ngã … quán tưởng … quán các hành … quán thức không phải là tự ngã, hay tự ngã không phải có thức, hay thức không ở trong tự ngã, hay tự ngã không ở trong thức. Do vậy, Như Lai khi được hỏi như vậy, lại không trả lời như vầy: “Thế giới là thường còn … Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 16 Rồi du sĩ ngoại đạo Vacchagotta từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahà Moggallāna; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Mahà Moggallāna những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 17 Ngồi một bên, du sĩ Vacchagotta nói với Tôn giả Mahà Moggallāna:
—Thưa Tôn giả Moggallāna, có phải thế giới là thường còn?
—Này Vaccha, Thế Tôn không trả lời: “Thế giới là thường còn”.
Vi-n 18-26.… (như trên) …
Vi-n 27 —Thưa Tôn giả Moggallāna, có phải Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?
—Này Vaccha, Thế Tôn không có trả lời: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 28 —Thưa Tôn giả Moggallāna, do nhân gì, do duyên gì, các du sĩ ngoại đạo khi được hỏi như vậy, liền trả lời như vầy: “Thế giới là thường còn … Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”? Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Moggallāna, Sa-môn Gotama khi được hỏi như vậy, lại không trả lời như vầy: “Thế giới là thường còn … Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”?
Vi-n 29 —Này Vaccha, các du sĩ ngoại đạo quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Họ quán thọ … quán tưởng … quán các hành … quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Do vậy, các du sĩ ngoại đạo khi được hỏi như vậy, liền trả lời như vầy: “Thế giới là thường còn … Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 30 Còn Như Lai, này Vaccha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, quán sắc không phải là tự ngã, hay tự ngã không phải có sắc, quán sắc không ở trong tự ngã, hay tự ngã không ở trong sắc. Như Lai quán thọ … quán tưởng … quán các hành … quán thức không phải là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Do vậy, Như Lai khi được hỏi như vậy, không có trả lời như vầy: “Thế giới là thường còn … Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 31 —Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Moggallāna! Vì rằng, giữa Ðạo sư và nam đệ tử, ý nghĩa với ý nghĩa, văn ngôn với văn ngôn có sự tương đồng, có sự tương hòa, không có sự mâu thuẫn, tức là tối thượng văn cú.
Vi-n 32 Thưa Tôn giả Moggallāna, nay tôi đi đến Sa-môn Gotama, sau khi đến tôi hỏi về ý nghĩa này. Sa-môn Gotama với những câu văn, với những lời văn đã trả lời về ý nghĩa này giống như Tôn giả Moggallāna. Thật vi diệu thay, Tôn giả Moggallāna! Thật hy hữu thay, Tôn giả Moggallāna! Vì rằng, giữa Ðạo sư và nam đệ tử, ý nghĩa với ý nghĩa, văn ngôn với văn ngôn có sự tương đồng, có sự tương hòa, không có sự mâu thuẫn, tức là tối thượng văn cú.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 44.8
- 1. The Undeclared Points
With Vacchagotta
8. Kinh Vacchagotta
Atha kho vacchagotto paribbājako yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho vacchagotto paribbājako bhagavantaṁ etadavoca:
“kiṁ nu kho, bho gotama, sassato loko”ti?
“Abyākataṁ kho etaṁ, vaccha, mayā: ‘sassato loko’ti …pe….
“Kiṁ pana, bho gotama, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti?
“Etampi kho, vaccha, abyākataṁ mayā: ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti.
Then the wanderer Vacchagotta went up to the Buddha and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side, and said to the Buddha:
“Worthy Gotama, is this right: ‘the cosmos is eternal’?”
“This has not been declared by me, Vaccha.” …
“Then is this right: ‘a realized one neither still exists nor no longer exists after death’?”
“This too has not been declared by me.”
417. Rồi du sĩ Vacchagotta đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã cùng Thế Tôn nói lời chào hỏi. Sau khi trao đổi những lời nói đáng ghi nhớ, thân mật, vị ấy ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, du sĩ Vacchagotta bạch với Thế Tôn điều này: “Thưa Tôn giả Gotama, có phải thế giới là thường hằng không?” “Này Vaccha, điều này đã không được Ta tuyên bố: ‘Thế giới là thường hằng’.”... cho đến... “Thưa Tôn giả Gotama, ‘Như Lai sau khi chết không phải có cũng không phải không có’ phải không?” “Này Vaccha, điều này cũng đã không được Ta tuyên bố: ‘Như Lai sau khi chết không phải có cũng không phải không có’.”
“Ko nu kho, bho gotama, hetu, ko paccayo, yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ evaṁ puṭṭhānaṁ evaṁ veyyākaraṇaṁ hoti: ‘sassato loko’ti vā …pe… ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā? Ko pana, bho gotama, hetu, ko paccayo, yena bhoto gotamassa evaṁ puṭṭhassa na evaṁ veyyākaraṇaṁ hoti: ‘sassato loko’tipi …pe… ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipī”ti?
“What’s the cause, worthy Gotama, what’s the reason why, when the wanderers of other religions are asked these questions, they declare one of these to be true? And what’s the reason why, when the worthy Gotama is asked these questions, he does not declare one of these to be true?”
“Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì, mà khi các du sĩ ngoại đạo được hỏi như vậy, lại trả lời như vầy: ‘Thế giới là thường hằng’... cho đến... ‘Như Lai sau khi chết, không phải có cũng không phải không có’? Và thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì, mà khi Tôn giả Gotama được hỏi như vậy, lại không trả lời như vầy: ‘Thế giới là thường hằng’... cho đến... ‘Như Lai sau khi chết, không phải có cũng không phải không có’?”
“Aññatitthiyā kho, vaccha, paribbājakā rūpaṁ attato samanupassanti, rūpavantaṁ vā attānaṁ, attani vā rūpaṁ, rūpasmiṁ vā attānaṁ. Vedanaṁ attato samanupassanti …pe… saññaṁ …pe… saṅkhāre …pe… viññāṇaṁ attato samanupassanti, viññāṇavantaṁ vā attānaṁ, attani vā viññāṇaṁ, viññāṇasmiṁ vā attānaṁ.
Tasmā aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ evaṁ puṭṭhānaṁ evaṁ veyyākaraṇaṁ hoti: ‘sassato loko’ti vā …pe… ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā.
Tathāgato ca kho, vaccha, arahaṁ sammāsambuddho na rūpaṁ attato samanupassati, na rūpavantaṁ vā attānaṁ, na attani vā rūpaṁ, na rūpasmiṁ vā attānaṁ. Na vedanaṁ attato samanupassati …pe… na saññaṁ …pe… na saṅkhāre …pe… na viññāṇaṁ attato samanupassati, na viññāṇavantaṁ vā attānaṁ, na attani vā viññāṇaṁ, na viññāṇasmiṁ vā attānaṁ.
Tasmā tathāgatassa evaṁ puṭṭhassa na evaṁ veyyākaraṇaṁ hoti: ‘sassato loko’tipi …pe… ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipī”ti.
“Vaccha, the wanderers of other religions regard form as self, self as having form, form in self, or self in form. They regard feeling … perception … choices … consciousness as self, self as having consciousness, consciousness in self, or self in consciousness.
That’s why, when asked, they declare one of those answers to be true.
The Realized One doesn’t regard form as self, self as having form, form in self, or self in form. He doesn’t regard feeling … perception … choices … consciousness as self, self as having consciousness, consciousness in self, or self in consciousness.
That’s why, when asked, he does not declare one of those answers to be true.”
“Này Vaccha, các du sĩ ngoại đạo xem sắc là tự ngã, hoặc tự ngã có sắc, hoặc sắc ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong sắc. Họ xem thọ là tự ngã... tưởng... các hành... thức là tự ngã, hoặc tự ngã có thức, hoặc thức ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong thức. Do đó, khi các du sĩ ngoại đạo được hỏi như vậy, họ trả lời như vầy: ‘Thế giới là thường hằng’... cho đến... ‘Như Lai sau khi chết, không phải có cũng không phải không có’. Còn Như Lai, này Vaccha, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, không xem sắc là tự ngã, không xem tự ngã có sắc, không xem sắc ở trong tự ngã, không xem tự ngã ở trong sắc. Không xem thọ là tự ngã... không xem tưởng... không xem các hành... không xem thức là tự ngã, không xem tự ngã có thức, không xem thức ở trong tự ngã, không xem tự ngã ở trong thức. Do đó, khi Như Lai được hỏi như vậy, Ngài không trả lời như vầy: ‘Thế giới là thường hằng’... cho đến... ‘Như Lai sau khi chết, không phải có cũng không phải không có’.”
Atha kho vacchagotto paribbājako uṭṭhāyāsanā yenāyasmā mahāmoggallāno tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā mahāmoggallānena saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho vacchagotto paribbājako āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ etadavoca: “kiṁ nu kho, bho moggallāna, sassato loko”ti? “Abyākataṁ kho etaṁ, vaccha, bhagavatā: ‘sassato loko’ti …pe…. “Kiṁ pana, bho moggallāna, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti? “Etampi kho, vaccha, abyākataṁ bhagavatā: ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti.
Then the wanderer Vacchagotta rose from his seat and went to Venerable Mahāmoggallāna, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side. He asked Mahāmoggallāna the same questions, and received the same answers.
Rồi du sĩ Vacchagotta từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến chỗ Tôn giả Mahāmoggallāna; sau khi đến, đã cùng Tôn giả Mahāmoggallāna trao đổi lời chào hỏi. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân hữu, bèn ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, du sĩ Vacchagotta nói với Tôn giả Mahāmoggallāna: “Thưa Tôn giả Moggallāna, có phải thế giới là thường hằng không?” “Này Vaccha, điều này đã không được Thế Tôn tuyên bố: ‘Thế giới là thường hằng’...” “Vậy thưa Tôn giả Moggallāna, có phải ‘Như Lai sau khi chết, không phải có cũng không phải không có’ không?” “Này Vaccha, điều này cũng không được Thế Tôn tuyên bố: ‘Như Lai sau khi chết, không phải có cũng không phải không có’.”
“Ko nu kho, bho moggallāna, hetu, ko paccayo, yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ evaṁ puṭṭhānaṁ evaṁ veyyākaraṇaṁ hoti: ‘sassato loko’ti vā …pe… ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā? Ko pana, bho moggallāna, hetu, ko paccayo yena samaṇassa gotamassa evaṁ puṭṭhassa na evaṁ veyyākaraṇaṁ hoti: ‘sassato loko’tipi …pe… ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipī”ti?
“Thưa Tôn giả Moggallāna, do nhân gì, do duyên gì, mà khi các du sĩ ngoại đạo được hỏi như vậy, lại trả lời như vầy: ‘Thế giới là thường hằng’... cho đến... ‘Như Lai sau khi chết, không phải có cũng không phải không có’? Và thưa Tôn giả Moggallāna, do nhân gì, do duyên gì, mà khi Sa-môn Gotama được hỏi như vậy, lại không trả lời như vầy: ‘Thế giới là thường hằng’... cho đến... ‘Như Lai sau khi chết, không phải có cũng không phải không có’?”
“Aññatitthiyā kho, vaccha, paribbājakā rūpaṁ attato samanupassanti, rūpavantaṁ vā attānaṁ, attani vā rūpaṁ, rūpasmiṁ vā attānaṁ. Vedanaṁ attato samanupassanti …pe… saññaṁ …pe… saṅkhāre …pe… viññāṇaṁ attato samanupassanti, viññāṇavantaṁ vā attānaṁ, attani vā viññāṇaṁ, viññāṇasmiṁ vā attānaṁ. Tasmā aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ evaṁ puṭṭhānaṁ evaṁ veyyākaraṇaṁ hoti: ‘sassato loko’ti vā …pe… ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā. Tathāgato ca kho, vaccha, arahaṁ sammāsambuddho na rūpaṁ attato samanupassati, na rūpavantaṁ vā attānaṁ, na attani vā rūpaṁ, na rūpasmiṁ vā attānaṁ. Na vedanaṁ attato samanupassati …pe… na saññaṁ …pe… na saṅkhāre …pe… na viññāṇaṁ attato samanupassati, na viññāṇavantaṁ vā attānaṁ, na attani vā viññāṇaṁ, na viññāṇasmiṁ vā attānaṁ. Tasmā tathāgatassa evaṁ puṭṭhassa na evaṁ veyyākaraṇaṁ hoti: ‘sassato loko’tipi, ‘asassato loko’tipi, ‘antavā loko’tipi, ‘anantavā loko’tipi, ‘taṁ jīvaṁ taṁ sarīran’tipi, ‘aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīran’tipi, ‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi, ‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi, ‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipī”ti.
“Này Vaccha, các du sĩ ngoại đạo xem sắc là tự ngã, hoặc tự ngã có sắc, hoặc sắc ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong sắc. Họ xem thọ là tự ngã... tưởng... các hành... thức là tự ngã, hoặc tự ngã có thức, hoặc thức ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong thức. Do đó, khi các du sĩ ngoại đạo được hỏi như vậy, họ trả lời như vầy: ‘Thế giới là thường hằng’... cho đến... ‘Như Lai sau khi chết, không phải có cũng không phải không có’. Còn Như Lai, này Vaccha, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, không xem sắc là tự ngã, không xem tự ngã có sắc, không xem sắc ở trong tự ngã, không xem tự ngã ở trong sắc. Không xem thọ là tự ngã... không xem tưởng... không xem các hành... không xem thức là tự ngã, không xem tự ngã có thức, không xem thức ở trong tự ngã, không xem tự ngã ở trong thức. Do đó, khi Như Lai được hỏi như vậy, Ngài không trả lời như vầy: ‘Thế giới là thường hằng’, hay ‘Thế giới là không thường hằng’, hay ‘Thế giới là hữu biên’, hay ‘Thế giới là vô biên’, hay ‘Sinh mạng và thân thể là một’, hay ‘Sinh mạng là khác, thân thể là khác’, hay ‘Như Lai sau khi chết, có tồn tại’, hay ‘Như Lai sau khi chết, không tồn tại’, hay ‘Như Lai sau khi chết, vừa có tồn tại vừa không tồn tại’, hay ‘Như Lai sau khi chết, không phải có cũng không phải không có’.”
“Acchariyaṁ, bho moggallāna, abbhutaṁ, bho moggallāna. Yatra hi nāma satthu ca sāvakassa ca atthena attho byañjanena byañjanaṁ saṁsandissati, samessati, na virodhayissati, yadidaṁ aggapadasmiṁ. Idānāhaṁ, bho moggallāna, samaṇaṁ gotamaṁ upasaṅkamitvā etamatthaṁ apucchiṁ. Samaṇopi me gotamo etehi padehi etehi byañjanehi etamatthaṁ byākāsi, seyyathāpi bhavaṁ moggallāno. Acchariyaṁ, bho moggallāna, abbhutaṁ, bho moggallāna. Yatra hi nāma satthu ca sāvakassa ca atthena attho byañjanena byañjanaṁ saṁsandissati samessati na virodhayissati, yadidaṁ aggapadasmin”ti.
Aṭṭhamaṁ.
He said, “It’s incredible, worthy Moggallāna, it’s amazing. How the meaning and the phrasing of the Teacher and the disciple fit together and agree without contradiction when it comes to the chief matter! Just now I went to the ascetic Gotama and asked him about this matter. And he explained it to me with these words and phrases, just like the worthy Moggallāna. It’s incredible, worthy Moggallāna, it’s amazing! How the meaning and the phrasing of the Teacher and the disciple fit together and agree without contradiction when it comes to the chief matter!”
“Thật vi diệu, thưa Tôn giả Moggallāna! Thật hy hữu, thưa Tôn giả Moggallāna! Về điểm giáo pháp tối thượng này, ý nghĩa và văn cú của bậc Đạo Sư và của vị đệ tử lại tương hợp, ăn khớp, không mâu thuẫn với nhau. Thưa Tôn giả Moggallāna, vừa rồi tôi đã đến gặp Sa-môn Gotama và hỏi về ý nghĩa này. Sa-môn Gotama cũng đã dùng chính những từ ngữ này, chính những văn cú này để giải thích ý nghĩa ấy cho tôi, giống hệt như Tôn giả Moggallāna vậy. Thật vi diệu, thưa Tôn giả Moggallāna! Thật hy hữu, thưa Tôn giả Moggallāna! Về điểm giáo pháp tối thượng này, ý nghĩa và văn cú của bậc Đạo Sư và của vị đệ tử lại tương hợp, ăn khớp, không mâu thuẫn với nhau.”