- Saṁyutta Nikāya 44.7
- 1. Abyākatavagga
Bản dịch
SN 44.7 — Kinh Moggallāna
Moggallānasutta
Vi-n 1 ..
Vi-n 2 Rồi du sĩ Vacchagotta đi đến Tôn giả Mahà Moggallāna; sau khi đến, nói với Tôn giả Mahà Moggallāna những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi một bên, du sĩ Vacchagotta thưa với Tôn giả Mahà Moggallāna:
—Thưa Tôn giả Moggallāna, thế giới là thường còn?
—Này Vaccha, Thế Tôn không trả lời: “Thế giới là thường còn”.
Vi-n 4 —Vậy thưa Tôn giả Moggallāna, thế giới là vô thường?
—Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời: “Thế giới là vô thường”.
Vi-n 5 —Thưa Tôn giả Moggallāna, có phải thế giới là hữu biên?
—Này Vaccha, Thế Tôn không trả lời: “Thế giới là hữu biên”.
Vi-n 6 —Vậy thưa Tôn giả Moggallāna, thế giới là vô biên?
—Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời: “Thế giới là vô biên”.
Vi-n 7 —Thưa Tôn giả Moggallāna, có phải sinh mạng và thân thể là một?
—Này Vaccha, Thế Tôn không trả lời: “Sinh mạng và thân thể là một”.
Vi-n 8 —Thưa Tôn giả Moggallāna, vậy sinh mạng và thân thể là khác?
—Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời: “Sinh mạng và thân thể là khác”.
Vi-n 9 —Thưa Tôn giả Moggallāna, có phải Như Lai có tồn tại sau khi chết?
—Này Vaccha, Thế Tôn không trả lời: “Như Lai có tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 10 —Thưa Tôn giả Moggallāna, vậy Như Lai không có tồn tại sau khi chết?
—Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời: “Như Lai không có tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 11 —Thưa Tôn giả Moggallāna, vậy Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết?
—Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời: “Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 12 —Thưa Tôn giả Moggallāna, vậy Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?
—Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 13 —Thưa Tôn giả Moggallāna, do nhân gì, do duyên gì các vị du sĩ ngoại đạo, khi được hỏi như thế này, thời trả lời như thế này: “Thế giới là thường còn. Hay thế giới là vô thường. Hay thế giới là hữu biên. Hay thế giới là vô biên. Hay sinh mạng và thân thể là một. Hay sinh mạng và thân thể là khác. Hay Như Lai có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?
Vi-n 14 Thưa Tôn giả Moggallāna, do nhân gì, do duyên gì, Sa-môn Gotama, khi được hỏi như thế này, thời không trả lời như thế này: “Thế giới là thường còn. Hay thế giới là vô thường. Hay thế giới là hữu biên. Hay thế giới là vô biên. Hay sinh mạng và thân thể là một. Hay sinh mạng và thân thể là khác. Hay Như Lai có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”?
Vi-n 15 —Này Vaccha, vì rằng các du sĩ ngoại đạo quán con mắt là: “Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”;.. quán tai … quán mũi … quán lưỡi … quán thân … quán ý là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”. Do vậy, các du sĩ ngoại đạo, nên khi được hỏi như vậy, trả lời như vầy: “Thế giới là thường còn … Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 16 Và Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, này Vaccha, quán con mắt là: “Cái này không phải của tôi. Cái này không phải là tôi. Cái này không phải tự ngã của tôi” … quán tai … quán mũi … quán lưỡi … quán thân … quán ý là: “Cái này không phải của tôi. Cái này không phải là tôi. Cái này không phải là tự ngã của tôi”. Do vậy, Như Lai khi được hỏi như vậy, không có trả lời như vầy: “Thế giới là thường còn … Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 17 Rồi du sĩ Vacchagotta từ chỗ ngồi đứng dậy đi đến Thế Tôn; sau khi đi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên.
Vi-n 18 Ngồi một bên, Vacchagotta bạch Thế Tôn:
—Thưa Tôn giả Gotama, thế giới thường còn?
—Này Vaccha, Ta không trả lời: “Thế giới là thường còn”.
Vi-n 19-26.… (như trên) …
Vi-n 27 —Thưa Tôn giả Gotama, có phải Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?
—Này Vaccha, Ta không có trả lời: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 28 —Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì các du sĩ ngoại đạo, khi được hỏi như vậy, thời trả lời như vầy: “Thế giới là thường còn … Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”? Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì, khi Tôn giả Gotama được hỏi như vậy, lại không trả lời như vầy: “Thế giới là thường còn … Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”?
Vi-n 29 —Này Vaccha, các du sĩ ngoại đạo quán con mắt là: “Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”, quán tai … quán mũi … quán lưỡi … quán thân … quán ý là: “Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”. Do vậy, các du sĩ ngoại đạo khi được hỏi như vậy, nên trả lời như vầy: “Thế giới là thường còn … Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 30 Còn Như Lai, này Vaccha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, quán con mắt là: “Cái này không phải của tôi. Cái này không phải là tôi. Cái này không phải là tự ngã của tôi”, quán tai … quán mũi … quán lưỡi … quán thân … quán ý là: “Cái này không phải của tôi. Cái này không phải là tôi. Cái này không phải là tự ngã của tôi”. Do vậy, Như Lai khi được hỏi như vậy, không trả lời như vầy: “Thế giới là thường còn … Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 31 —Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật hy hữu thay, thưa Tôn giả Gotama! Vì rằng giữa Ðạo sư với nam đệ tử, ý nghĩa với ý nghĩa, văn ngôn với văn ngôn có sự tương đồng, có sự tương hòa, không có sự mâu thuẫn, tức là tối thượng văn cú.
Vi-n 32 Thưa Tôn giả Gotama, nay con đi đến Sa-môn Mahà Moggallāna và nói về ý nghĩa này. Sa-môn Moggallāna, với những câu như thế này, với những lời như thế này đã trả lời về ý nghĩa này giống như Tôn giả Gotama. Vì rằng giữa Ðạo sư với nam đệ tử, ý nghĩa với ý nghĩa, văn ngôn với văn ngôn có sự tương đồng, có sự tương hòa, không có sự mâu thuẫn, tức là tối thượng văn cú.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 44.7
- 1. The Undeclared Points
With Moggallāna
7. Kinh Moggallāna
Atha kho vacchagotto paribbājako yenāyasmā mahāmoggallāno tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā mahāmoggallānena saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho vacchagotto paribbājako āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ etadavoca:
Then the wanderer Vacchagotta went up to Venerable Mahāmoggallāna, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side, and said to Mahāmoggallāna:
416. Lúc bấy giờ, du sĩ Vacchagotta đi đến chỗ của tôn giả Mahāmoggallāna; sau khi đến, vị ấy đã cùng với tôn giả Mahāmoggallāna trao đổi lời chào hỏi thân thiện. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện và đáng ghi nhớ, vị ấy ngồi xuống một bên. Sau khi đã ngồi xuống một bên, du sĩ Vacchagotta đã nói điều này với tôn giả Mahāmoggallāna:
“Kiṁ nu kho, bho moggallāna, sassato loko”ti?
“Abyākataṁ kho etaṁ, vaccha, bhagavatā: ‘sassato loko’”ti.
“Kiṁ pana, bho moggallāna, asassato loko”ti? “Etampi kho, vaccha, abyākataṁ bhagavatā: ‘asassato loko’”ti. “Kiṁ nu kho, bho moggallāna, antavā loko”ti? “Abyākataṁ kho etaṁ, vaccha, bhagavatā: ‘antavā loko’”ti. “Kiṁ pana, bho moggallāna, anantavā loko”ti? “Etampi kho, vaccha, abyākataṁ bhagavatā: ‘anantavā loko’”ti. “Kiṁ nu kho, bho moggallāna, taṁ jīvaṁ taṁ sarīran”ti? “Abyākataṁ kho etaṁ, vaccha, bhagavatā: ‘taṁ jīvaṁ taṁ sarīran’”ti. “Kiṁ pana, bho moggallāna, aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīran”ti? “Etampi kho, vaccha, abyākataṁ bhagavatā: ‘aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīran’”ti. “Kiṁ nu kho, bho moggallāna, hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti? “Abyākataṁ kho etaṁ, vaccha, bhagavatā: ‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti. “Kiṁ pana, bho moggallāna, na hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti? “Etampi kho, vaccha, abyākataṁ bhagavatā: ‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti. “Kiṁ nu kho, bho moggallāna, hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti? “Abyākataṁ kho etaṁ, vaccha, bhagavatā: ‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti. “Kiṁ pana, bho moggallāna, neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti?
“Etampi kho, vaccha, abyākataṁ bhagavatā: ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti.
“Worthy Moggallāna, is this right: ‘the cosmos is eternal’?”
“Vaccha, this has not been declared by the Buddha.”
“Then is this right: ‘the cosmos is not eternal’ … ‘the cosmos is finite’ … ‘the cosmos is infinite’ … ‘the soul and the body are one and the same’ … ‘the soul is one thing, the body another’ … ‘a realized one still exists after death’ … ‘a realized one no longer exists after death’ … ‘a realized one both still exists and no longer exists after death’ … ‘a realized one neither still exists nor no longer exists after death’?”
“This too has not been declared by the Buddha.”
– Này tôn giả Moggallāna, có phải thế giới là thường hằng chăng? – Này Vaccha, điều này đã không được đức Thế Tôn tuyên bố: ‘Thế giới là thường hằng’. – Vậy thì, này tôn giả Moggallāna, có phải thế giới là không thường hằng chăng? – Này Vaccha, điều này cũng đã không được đức Thế Tôn tuyên bố: ‘Thế giới là không thường hằng’. – Này tôn giả Moggallāna, có phải thế giới là hữu biên chăng? – Này Vaccha, điều này đã không được đức Thế Tôn tuyên bố: ‘Thế giới là hữu biên’. – Vậy thì, này tôn giả Moggallāna, có phải thế giới là vô biên chăng? – Này Vaccha, điều này cũng đã không được đức Thế Tôn tuyên bố: ‘Thế giới là vô biên’. – Này tôn giả Moggallāna, có phải sinh mạng và thân thể là một chăng? – Này Vaccha, điều này đã không được đức Thế Tôn tuyên bố: ‘Sinh mạng và thân thể là một’. – Vậy thì, này tôn giả Moggallāna, có phải sinh mạng là khác, thân thể là khác chăng? – Này Vaccha, điều này cũng đã không được đức Thế Tôn tuyên bố: ‘Sinh mạng là khác, thân thể là khác’. – Này tôn giả Moggallāna, có phải Như Lai tồn tại sau khi chết chăng? – Này Vaccha, điều này đã không được đức Thế Tôn tuyên bố: ‘Như Lai tồn tại sau khi chết’. – Vậy thì, này tôn giả Moggallāna, có phải Như Lai không tồn tại sau khi chết chăng? – Này Vaccha, điều này cũng đã không được đức Thế Tôn tuyên bố: ‘Như Lai không tồn tại sau khi chết’. – Này tôn giả Moggallāna, có phải Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết chăng? – Này Vaccha, điều này đã không được đức Thế Tôn tuyên bố: ‘Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết’. – Vậy thì, này tôn giả Moggallāna, có phải Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết chăng? – Này Vaccha, điều này cũng đã không được đức Thế Tôn tuyên bố: ‘Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết’.
“Ko nu kho, bho moggallāna, hetu ko paccayo, yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ evaṁ puṭṭhānaṁ evaṁ veyyākaraṇaṁ hoti—sassato lokoti vā, asassato lokoti vā, antavā lokoti vā, anantavā lokoti vā, taṁ jīvaṁ taṁ sarīranti vā, aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīranti vā, hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā, na hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā, hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā, neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā? Ko pana, bho moggallāna, hetu ko paccayo, yena samaṇassa gotamassa evaṁ puṭṭhassa na evaṁ veyyākaraṇaṁ hoti—sassato lokotipi, asassato lokotipi, antavā lokotipi, anantavā lokotipi, taṁ jīvaṁ taṁ sarīrantipi, aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīrantipi, hoti tathāgato paraṁ maraṇātipi, na hoti tathāgato paraṁ maraṇātipi, hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇātipi, neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇātipī”ti?
“What’s the cause, worthy Moggallāna, what’s the reason why, when the wanderers of other religions are asked these questions, they declare one of these to be true? And what’s the reason why, when the ascetic Gotama is asked these questions, he does not declare one of these to be true?”
– Này tôn giả Moggallāna, do nhân gì, do duyên gì mà khi các du sĩ ngoại đạo được hỏi như vậy, họ lại có sự giải thích như vầy: ‘Thế giới là thường hằng’, hoặc ‘Thế giới là không thường hằng’, hoặc ‘Thế giới là hữu biên’, hoặc ‘Thế giới là vô biên’, hoặc ‘Sinh mạng và thân thể là một’, hoặc ‘Sinh mạng là khác, thân thể là khác’, hoặc ‘Như Lai tồn tại sau khi chết’, hoặc ‘Như Lai không tồn tại sau khi chết’, hoặc ‘Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết’, hoặc ‘Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết’? Và này tôn giả Moggallāna, do nhân gì, do duyên gì mà khi sa-môn Gotama được hỏi như vậy, ngài lại không có sự giải thích như vầy: rằng ‘Thế giới là thường hằng’, rằng ‘Thế giới là không thường hằng’, rằng ‘Thế giới là hữu biên’, rằng ‘Thế giới là vô biên’, rằng ‘Sinh mạng và thân thể là một’, rằng ‘Sinh mạng là khác, thân thể là khác’, rằng ‘Như Lai tồn tại sau khi chết’, rằng ‘Như Lai không tồn tại sau khi chết’, rằng ‘Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết’, rằng ‘Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết’?
“Aññatitthiyā kho, vaccha, paribbājakā cakkhuṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassanti …pe… jivhaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassanti …pe… manaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassanti.
Tasmā aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ evaṁ puṭṭhānaṁ evaṁ veyyākaraṇaṁ hoti—sassato lokoti vā …pe… neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā.
Tathāgato ca kho, vaccha, arahaṁ sammāsambuddho cakkhuṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati …pe… jivhaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati …pe… manaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati.
Tasmā tathāgatassa evaṁ puṭṭhassa na evaṁ veyyākaraṇaṁ hoti—sassato lokotipi …pe… neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇātipī”ti.
“Vaccha, the wanderers of other religions regard the eye like this: ‘This is mine, I am this, this is my self.’ They regard the ear … nose … tongue … body … mind like this: ‘This is mine, I am this, this is my self.’
That’s why, when asked, they declare one of those answers to be true.
The Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha regards the eye like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ He regards the ear … nose … tongue … body … mind like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’
That’s why, when asked, he does not declare one of those answers to be true.”
“Này Vaccha, các du sĩ ngoại đạo quán xét con mắt: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’... cho đến... quán xét cái lưỡi: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’... cho đến... quán xét ý: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’. Do đó, khi được hỏi như vậy, các du sĩ ngoại đạo đã trả lời rằng: ‘Thế giới là thường hằng’, hoặc... cho đến... ‘Như Lai sau khi chết không phải có cũng không phải không có’. Còn này Vaccha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Như Lai quán xét con mắt: ‘Cái này không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi’... cho đến... quán xét cái lưỡi: ‘Cái này không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi’... cho đến... quán xét ý: ‘Cái này không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi’. Do đó, khi được hỏi như vậy, Như Lai đã không trả lời rằng: ‘Thế giới là thường hằng’, cũng vậy... cho đến... ‘Như Lai sau khi chết không phải có cũng không phải không có’.”
Atha kho vacchagotto paribbājako uṭṭhāyāsanā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho vacchagotto paribbājako bhagavantaṁ etadavoca: “kiṁ nu kho, bho gotama, sassato loko”ti? “Abyākataṁ kho etaṁ, vaccha, mayā: ‘sassato loko’ti …pe…. “Kiṁ pana, bho gotama, neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti? “Etampi kho, vaccha, abyākataṁ mayā: ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti.
Then the wanderer Vacchagotta rose from his seat and went to the Buddha and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side. He asked the Buddha the same questions, and received the same answers.
Rồi du sĩ Vacchagotta đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã cùng Thế Tôn nói lời chào hỏi. Sau khi trao đổi những lời nói đáng ghi nhớ, thân mật, vị ấy ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, du sĩ Vacchagotta bạch với Thế Tôn điều này: “Thưa Tôn giả Gotama, có phải thế giới là thường hằng không?” “Này Vaccha, điều này đã không được Ta tuyên bố: ‘Thế giới là thường hằng’.”... cho đến... “Thưa Tôn giả Gotama, vậy thì có phải Như Lai sau khi chết không phải có cũng không phải không có không?” “Này Vaccha, điều này cũng đã không được Ta tuyên bố: ‘Như Lai sau khi chết không phải có cũng không phải không có’.”
“Ko nu kho, bho gotama, hetu ko paccayo, yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ evaṁ puṭṭhānaṁ evaṁ veyyākaraṇaṁ hoti: ‘sassato loko’ti vā …pe… ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā? Ko pana, bho gotama, hetu ko paccayo, yena bhoto gotamassa evaṁ puṭṭhassa na evaṁ veyyākaraṇaṁ hoti: ‘sassato loko’tipi …pe… ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipī”ti?
“Thưa Tôn giả Gotama, do nhân nào, do duyên nào mà các du sĩ ngoại đạo khi được hỏi như vậy đã trả lời rằng: ‘Thế giới là thường hằng’, hoặc... cho đến... ‘Như Lai sau khi chết không phải có cũng không phải không có’? Thưa Tôn giả Gotama, do nhân nào, do duyên nào mà Tôn giả Gotama khi được hỏi như vậy đã không trả lời rằng: ‘Thế giới là thường hằng’, cũng vậy... cho đến... ‘Như Lai sau khi chết không phải có cũng không phải không có’?”
“Aññatitthiyā kho, vaccha, paribbājakā cakkhuṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassanti …pe… jivhaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassanti …pe… manaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassanti. Tasmā aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ evaṁ puṭṭhānaṁ evaṁ veyyākaraṇaṁ hoti: ‘sassato loko’ti vā …pe… ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā. Tathāgato ca kho, vaccha, arahaṁ sammāsambuddho cakkhuṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati …pe… jivhaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati …pe… manaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati. Tasmā tathāgatassa evaṁ puṭṭhassa na evaṁ veyyākaraṇaṁ hoti: ‘sassato loko’tipi, ‘asassato loko’tipi, ‘antavā loko’tipi, ‘anantavā loko’tipi, ‘taṁ jīvaṁ taṁ sarīran’tipi, ‘aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīran’tipi, ‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi, ‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi, ‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipī”ti.
“Này Vaccha, các du sĩ ngoại đạo quán xét con mắt: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’... cho đến... quán xét cái lưỡi: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’... cho đến... quán xét ý: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’. Do đó, khi được hỏi như vậy, các du sĩ ngoại đạo đã trả lời rằng: ‘Thế giới là thường hằng’, hoặc... cho đến... ‘Như Lai sau khi chết không phải có cũng không phải không có’. Còn này Vaccha, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Như Lai quán xét con mắt: ‘Cái này không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi’... cho đến... quán xét cái lưỡi: ‘Cái này không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi’... cho đến... quán xét ý: ‘Cái này không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi’. Do đó, khi được hỏi như vậy, Như Lai đã không trả lời rằng: ‘Thế giới là thường hằng’, cũng vậy, ‘Thế giới là không thường hằng’, cũng vậy, ‘Thế giới là hữu biên’, cũng vậy, ‘Thế giới là vô biên’, cũng vậy, ‘Sinh mạng và thân thể là một’, cũng vậy, ‘Sinh mạng là khác, thân thể là khác’, cũng vậy, ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết’, cũng vậy, ‘Như Lai không tồn tại sau khi chết’, cũng vậy, ‘Như Lai vừa có tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết’, cũng vậy, ‘Như Lai không phải có tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết’.”
“Acchariyaṁ, bho gotama, abbhutaṁ, bho gotama. Yatra hi nāma satthu ca sāvakassa ca atthena attho byañjanena byañjanaṁ saṁsandissati samessati na virodhayissati, yadidaṁ aggapadasmiṁ. Idānāhaṁ, bho gotama, samaṇaṁ mahāmoggallānaṁ upasaṅkamitvā etamatthaṁ apucchiṁ. Samaṇopi me moggallāno etehi padehi etehi byañjanehi tamatthaṁ byākāsi, seyyathāpi bhavaṁ gotamo. Acchariyaṁ, bho gotama, abbhutaṁ, bho gotama. Yatra hi nāma satthu ca sāvakassa ca atthena attho byañjanena byañjanaṁ saṁsandissati samessati na virodhayissati, yadidaṁ aggapadasmin”ti.
Sattamaṁ.
He said, “It’s incredible, worthy Gotama, it’s amazing! How the meaning and the phrasing of the Teacher and the disciple fit together and agree without contradiction when it comes to the chief matter! Just now I went to the ascetic Mahāmoggallāna and asked him about this matter. And he explained it to me with these words and phrases, just like the worthy Gotama. It’s incredible, worthy Gotama, it’s amazing! How the meaning and the phrasing of the Teacher and the disciple fit together and agree without contradiction when it comes to the chief matter!”
“Thưa Tôn giả Gotama, thật vi diệu! Thưa Tôn giả Gotama, thật hy hữu! Quả thật, lời dạy của bậc Đạo Sư và của vị đệ tử, về ý nghĩa và văn cú, đã tương hợp, phù hợp, không mâu thuẫn, ở trong pháp tối thượng này. Thưa Tôn giả Gotama, vừa rồi con đã đi đến chỗ sa-môn Đại Mục-kiền-liên và đã hỏi về ý nghĩa này. Sa-môn Mục-kiền-liên cũng đã giải thích cho con ý nghĩa ấy bằng chính những câu chữ này, giống hệt như Tôn giả Gotama. Thưa Tôn giả Gotama, thật vi diệu! Thưa Tôn giả Gotama, thật hy hữu! Quả thật, lời dạy của bậc Đạo Sư và của vị đệ tử, về ý nghĩa và văn cú, đã tương hợp, phù hợp, không mâu thuẫn, ở trong pháp tối thượng này.” Kinh thứ bảy.