- Saṁyutta Nikāya 44.9
- 1. Abyākatavagga
Bản dịch
SN 44.9 — Kinh Kutūhalasālā (Giảng đường Tranh luận)
Kutūhalasālāsutta
Vi-n 1 ..
Vi-n 2 Rồi du sĩ Vacchagotta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi một bên, du sĩ Vacchagotta thưa với Thế Tôn:
—Thưa Tôn giả Gotama, những ngày về trước, những ngày về trước nữa, rất nhiều Sa-môn, Bà-la-môn là du sĩ ngoại đạo ngồi tụ tập, tụ hội tại Luận nghị đường, và câu chuyện sau đây được khởi lên: “Vị Pùrana Kassapa này là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng”. Khi nói về một đệ tử từ trần, mệnh chung, họ nói sanh xứ của vị ấy như sau: “Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này”. Nếu đệ tử là vị thượng nhân, tối thượng nhân, đã đạt địa vị tối thắng, khi vị này từ trần, mệnh chung, họ nói sanh xứ của vị ấy như sau: “Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này”.
Vi-n 4-9. Makkhali Gosāla … Nigaṇṭha Nātaputta … Sanjaya Bellaṭṭhiputta … Pakuddha Kaccāyana … vị Ajita Kesakambala này là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng. Khi nói về một đệ tử từ trần, mệnh chung, họ nói sanh xứ của vị ấy như sau: “Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này”. Nếu đệ tử là vị thượng nhân, tối thượng nhân, đã đạt địa vị tối thắng, khi vị này từ trần, mệnh chung, họ nói sanh xứ của vị ấy như sau: “Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này”.
Vi-n 10 Còn Sa-môn Gotama này là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng. Khi nói về một đệ tử đã từ trần, đã mệnh chung, Sa-môn Gotama nói sanh xứ của vị ấy như sau: “Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này”. Nếu đệ tử là bậc thượng nhân, tối thắng nhân đã đạt địa vị tối thượng, khi vị này từ trần, mệnh chung, Sa-môn Gotama không có trả lời: “Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này”. Nhưng Ngài nói về vị ấy như sau: “Vị ấy đã chặt đứt ái, đã phá hủy các kiết phược, nhờ chơn chánh thấy rõ kiêu mạn, đã đoạn tận khổ đau”.
Vi-n 11 Thưa Tôn giả Gotama, con có khởi lên phân vân và nghi ngờ như sau: “Như thế nào, cần phải thấu hiểu pháp của Sa-môn Gotama?”
Vi-n 12 —Này Vaccha, thôi vừa rồi sự phân vân của Ông. Thôi vừa rồi sự nghi ngờ của Ông. Chính do trên điểm Ông phân vân mà nghi ngờ được khởi lên. Ta tuyên bố sự sanh khởi, này Vaccha, đối với những ai có chấp thủ, không phải đối với ai không có chấp thủ.
Vi-n 13 Ví như, này Vaccha, một ngọn lửa cháy đỏ khi nào có nhiên liệu (saupàdàna), không phải không có nhiên liệu. Cũng vậy, này Vaccha, Ta tuyên bố về sanh khởi đối với người có chấp thủ (sanh y), không phải với người không có chấp thủ.
Vi-n 14 —Thưa Tôn giả Gotama, trong khi có gió thổi ngọn lửa đi thật xa, thời Tôn giả Gotama tuyên bố cái gì làm nhiên liệu cho ngọn lửa này?
—Này Vaccha, trong khi có gió thổi ngọn lửa đi thật xa, thời Ta nói chính gió là nhiên liệu. Trong khi ấy, này Vaccha, chính gió là nhiên liệu (upàdàna).
Vi-n 15 —Thưa Tôn giả Gotama, trong khi một loài hữu tình quăng bỏ thân này để sanh vào một thân khác, thời Tôn giả Gotama tuyên bố cái gì làm nhiên liệu cho thân này?
—Này Vaccha, trong khi một loài hữu tình quăng bỏ thân này và sanh vào một thân khác, này Vaccha, Ta tuyên bố rằng trong khi ấy chính ái (tanhà) là nhiên liệu (upàdànam).
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 44.9
- 1. The Undeclared Points
The Debating Hall
9. Kinh Kutūhalasālā (Giảng đường Tranh luận)
Atha kho vacchagotto paribbājako yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho vacchagotto paribbājako bhagavantaṁ etadavoca:
Then the wanderer Vacchagotta went up to the Buddha and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side, and said to the Buddha:
418. Bấy giờ, du sĩ Vacchagotta đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, bèn cùng với Thế Tôn nói lên những lời chào hỏi. Sau khi trao đổi những lời thăm hỏi thân hữu, bèn ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, du sĩ Vacchagotta bạch với Thế Tôn rằng:
“Purimāni, bho gotama, divasāni purimatarāni sambahulānaṁ nānātitthiyānaṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ paribbājakānaṁ kutūhalasālāyaṁ sannisinnānaṁ sannipatitānaṁ ayamantarākathā udapādi: ‘ayaṁ kho pūraṇo kassapo saṅghī ceva gaṇī ca gaṇācariyo ca ñāto yasassī titthakaro sādhusammato bahujanassa. Sopi sāvakaṁ abbhatītaṁ kālaṅkataṁ upapattīsu byākaroti: “asu amutra upapanno, asu amutra upapanno”ti. Yopissa sāvako uttamapuriso paramapuriso paramapattipatto tampi sāvakaṁ abbhatītaṁ kālaṅkataṁ upapattīsu byākaroti: “asu amutra upapanno, asu amutra upapanno”ti.
“Worthy Gotama, a few days ago several ascetics, brahmins, and wanderers who follow various other religions were sitting together in the debating hall, and this discussion came up among them: ‘This Pūraṇa Kassapa leads an order and a community, and tutors a community. He’s a well-known and famous religious founder, deemed holy by many people. When a disciple passes away, he declares that this one is reborn here, while that one is reborn there. And as for a disciple who is a supreme person, highest of people, having reached the highest point, when they pass away he also declares that this one is reborn here, while that one is reborn there.
“Thưa Tôn giả Gotama, trong những ngày trước đây, những ngày trước đây nữa, có nhiều du sĩ, Sa-môn, Bà-la-môn thuộc các ngoại đạo, đang ngồi tụ họp tại giảng đường Kutūhala, câu chuyện này đã được khởi lên: ‘Vị Pūraṇa Kassapa này có hội chúng, có giáo đoàn, là vị giáo trưởng, nổi tiếng, có danh vọng, là người sáng lập giáo phái, được nhiều người xem là bậc thiện nhân. Vị ấy cũng tuyên bố về sự tái sanh của người đệ tử đã mệnh chung, qua đời rằng: ‘Người này đã sanh ở nơi kia, người này đã sanh ở nơi kia.’ Và cả người đệ tử của vị ấy là bậc tối thượng, bậc siêu nhân, đã đạt đến thành tựu tối cao, vị ấy cũng tuyên bố về người đệ tử ấy đã mệnh chung, qua đời rằng: ‘Người này đã sanh ở nơi kia, người này đã sanh ở nơi kia.’”
Ayampi kho makkhali gosālo …pe… ayampi kho nigaṇṭho nāṭaputto …pe… ayampi kho sañcayo belaṭṭhaputto …pe… ayampi kho pakudho kaccāno …pe… ayampi kho ajito kesakambalo saṅghī ceva gaṇī ca gaṇācariyo ca ñāto yasassī titthakaro sādhusammato bahujanassa. Sopi sāvakaṁ abbhatītaṁ kālaṅkataṁ upapattīsu byākaroti: “asu amutra upapanno, asu amutra upapanno”ti. Yopissa sāvako uttamapuriso paramapuriso paramapattipatto tampi sāvakaṁ abbhatītaṁ kālaṅkataṁ upapattīsu byākaroti: “asu amutra upapanno, asu amutra upapanno”ti.
Ayampi kho samaṇo gotamo saṅghī ceva gaṇī ca gaṇācariyo ca ñāto yasassī titthakaro sādhusammato bahujanassa. Sopi sāvakaṁ abbhatītaṁ kālaṅkataṁ upapattīsu byākaroti: “asu amutra upapanno, asu amutra upapanno”ti.
This bamboo-staffed ascetic Gosāla … the Jain ascetic of the Ñātika clan … Sañjaya Belaṭṭhiputta … Pakudha Kaccāyana … Ajita of the hair blanket leads an order and a community, and tutors a community. He’s a well-known and famous religious founder, deemed holy by many people. When a disciple passes away, he declares that this one is reborn here, while that one is reborn there. And as for a disciple who is a supreme person, highest of people, having reached the highest point, when they pass away he also declares that this one is reborn here, while that one is reborn there.
This ascetic Gotama leads an order and a community, and tutors a community. He’s a well-known and famous religious founder, deemed holy by many people. When a disciple passes away, he declares that this one is reborn here, while that one is reborn there.
“Cả vị Makkhali Gosāla này nữa... (như trên)... Cả vị Nigaṇṭha Nāṭaputta này nữa... (như trên)... Cả vị Sañcaya Belaṭṭhaputta này nữa... (như trên)... Cả vị Pakudha Kaccāna này nữa... (như trên)... Cả vị Ajita Kesakambala này nữa, cũng có hội chúng, có giáo đoàn, là vị giáo trưởng, nổi tiếng, có danh vọng, là người sáng lập giáo phái, được nhiều người xem là bậc thiện nhân. Vị ấy cũng tuyên bố về sự tái sanh của người đệ tử đã mệnh chung, qua đời rằng: ‘Người này đã sanh ở nơi kia, người này đã sanh ở nơi kia.’ Và cả người đệ tử của vị ấy là bậc tối thượng, bậc siêu nhân, đã đạt đến thành tựu tối cao, vị ấy cũng tuyên bố về người đệ tử ấy đã mệnh chung, qua đời rằng: ‘Người này đã sanh ở nơi kia, người này đã sanh ở nơi kia.’”
Yopissa sāvako uttamapuriso paramapuriso paramapattipatto tañca sāvakaṁ abbhatītaṁ kālaṅkataṁ upapattīsu na byākaroti: “asu amutra upapanno, asu amutra upapanno”ti. Api ca kho naṁ evaṁ byākaroti: “acchecchi taṇhaṁ, vivattayi saṁyojanaṁ, sammā mānābhisamayā antamakāsi dukkhassā”’ti. Tassa mayhaṁ, bho gotama, ahu deva kaṅkhā, ahu vicikicchā: ‘kathaṁ nāma samaṇassa gotamassa dhammo abhiññeyyo’”ti?
But as for a disciple who is a supreme person, highest of people, having reached the highest point, when they pass away he doesn’t declare that this one is reborn here, while that one is reborn there. Rather, he declares that they have cut off craving, cast off the fetters, and by rightly comprehending conceit have made an end of suffering.’ I had doubt and uncertainty about that: ‘How on earth can I understand the ascetic Gotama’s teaching?’”
“Cả Sa-môn Gotama này nữa, cũng có hội chúng, có giáo đoàn, là vị giáo trưởng, nổi tiếng, có danh vọng, là người sáng lập giáo phái, được nhiều người xem là bậc thiện nhân. Vị ấy cũng tuyên bố về sự tái sanh của người đệ tử đã mệnh chung, qua đời rằng: ‘Người này đã sanh ở nơi kia, người này đã sanh ở nơi kia.’ Nhưng đối với người đệ tử của vị ấy là bậc tối thượng, bậc siêu nhân, đã đạt đến thành tựu tối cao, vị ấy lại không tuyên bố về người đệ tử ấy đã mệnh chung, qua đời rằng: ‘Người này đã sanh ở nơi kia, người này đã sanh ở nơi kia.’ Mà trái lại, vị ấy tuyên bố như vầy: ‘Đã đoạn trừ ái dục, đã tháo bỏ các kiết sử, do chơn chánh liễu tri ngã mạn, đã chấm dứt khổ đau.’ Thưa Tôn giả Gotama, đối với con, đã có sự phân vân, đã có sự hoài nghi: ‘Làm thế nào để có thể thắng tri được pháp của Sa-môn Gotama?’”
“Alañhi te, vaccha, kaṅkhituṁ, alaṁ vicikicchituṁ. Kaṅkhanīye ca pana te ṭhāne vicikicchā uppannā.
Saupādānassa khvāhaṁ, vaccha, upapattiṁ paññāpemi no anupādānassa. Seyyathāpi, vaccha, aggi saupādāno jalati, no anupādāno; evameva khvāhaṁ, vaccha, saupādānassa upapattiṁ paññāpemi, no anupādānassā”ti.
“Vaccha, no wonder you’re doubting and uncertain. Doubt has come up in you about an uncertain matter.
I describe rebirth for someone who grasps fuel, not for someone who does not. It’s like a fire which only burns with fuel, not without fuel. In the same way I describe rebirth for someone who grasps fuel, not for someone who doesn’t grasp fuel.”
“Này Vaccha, thật đáng cho ông phân vân, thật đáng cho ông hoài nghi. Sự hoài nghi đã sanh khởi nơi ông trong một vấn đề đáng hoài nghi. Này Vaccha, Ta tuyên bố sự tái sanh là dành cho người có chấp thủ, không phải cho người không có chấp thủ. Ví như, này Vaccha, ngọn lửa cháy được là nhờ có nhiên liệu, không có nhiên liệu thì không cháy được; cũng vậy, này Vaccha, Ta tuyên bố sự tái sanh là dành cho người có chấp thủ, không phải cho người không có chấp thủ.”
“Yasmiṁ, bho gotama, samaye acci vātena khittā dūrampi gacchati, imassa pana bhavaṁ gotamo kiṁ upādānasmiṁ paññāpetī”ti?
“Yasmiṁ kho, vaccha, samaye acci vātena khittā dūrampi gacchati, tamahaṁ vātūpādānaṁ paññāpemi. Vāto hissa, vaccha, tasmiṁ samaye upādānaṁ hotī”ti.
“Yasmiñca pana, bho gotama, samaye imañca kāyaṁ nikkhipati, satto ca aññataraṁ kāyaṁ anupapanno hoti, imassa pana bhavaṁ gotamo kiṁ upādānasmiṁ paññāpetī”ti?
“Yasmiṁ kho, vaccha, samaye imañca kāyaṁ nikkhipati, satto ca aññataraṁ kāyaṁ anupapanno hoti, tamahaṁ taṇhūpādānaṁ vadāmi. Taṇhā hissa, vaccha, tasmiṁ samaye upādānaṁ hotī”ti.
Navamaṁ.
“But when a flame is blown away by the wind, what does the worthy Gotama say is its fuel then?”
“At such a time, I say that it’s fueled by the wind. For the wind is its fuel then.”
“But when someone who is attached has laid down this body and has not been reborn in one of the realms, what does the worthy Gotama say is their fuel then?”
“When someone who is attached has laid down this body, Vaccha, and has not been reborn in one of the realms, I say they’re fueled by craving. For craving is their fuel then.”
“Thưa Tôn giả Gotama, vào lúc ngọn lửa bị gió tung đi xa, Tôn giả Gotama tuyên bố cái gì là nhiên liệu của nó?” “Này Vaccha, vào lúc ngọn lửa bị gió tung đi xa, Ta tuyên bố gió là nhiên liệu của nó. Này Vaccha, vì vào lúc ấy, gió chính là nhiên liệu của nó.” “Và thưa Tôn giả Gotama, vào lúc thân này được đặt xuống, và chúng sanh chưa tái sanh vào một thân khác, Tôn giả Gotama tuyên bố cái gì là chấp thủ của nó?” “Này Vaccha, vào lúc thân này được đặt xuống, và chúng sanh chưa tái sanh vào một thân khác, Ta nói rằng ái dục là chấp thủ của nó. Này Vaccha, vì vào lúc ấy, ái dục chính là chấp thủ của nó.” (Kinh thứ chín).