- Saṁyutta Nikāya 4.8
- 1. Paṭhamavagga
Nandatisutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Nandatisutta
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anāthapiṇḍika.
Vi-n 2 Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Cha sung sướng vì con,
(Thế Tôn):
Người chăn sướng vì bò,
Người sướng vì sanh y,
Không sanh y, không sướng.Cha sầu vì con cái,
Người chăn sầu vì bò,
Người sầu vì sanh y,
Không sanh y, không sầu.
Rồi Ác ma biết rằng: “Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta”, liền biến mất tại chỗ.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
8. Kinh Nandati (Hoan Hỷ)
Atha kho māro pāpimā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavato santike imaṁ gāthaṁ abhāsi:
Then Māra the Wicked went up to the Buddha and spoke this verse in the Buddha’s presence:
144. Tôi nghe như vầy: Một thời, đức Thế Tôn trú ở Sāvatthī (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc). Khi ấy, Ác ma Pāpimā đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đã nói lên câu kệ này trước sự hiện diện của đức Thế Tôn:
“Nandati puttehi puttimā, Gomā gobhi tatheva nandati; Upadhīhi narassa nandanā, Na hi so nandati yo nirūpadhī”ti.
“Children bring you delight! Cattle also bring you delight! For attachments are a man’s delight; without attachments there’s no delight.”
‘Người có con hoan hỷ vì các con, người có bò cũng hoan hỷ vì đàn bò; sự hoan hỷ của con người là do các chấp thủ. Người không có chấp thủ thì không hoan hỷ.’
“Socati puttehi puttimā, Gomā gobhi tatheva socati; Upadhīhi narassa socanā, Na hi so socati yo nirūpadhī”ti.
“Your children bring you sorrow. Your cattle also bring you sorrow. For attachments are a man’s sorrow; without attachments there are no sorrows.”
‘Người có con sầu muộn vì các con, người có bò cũng sầu muộn vì đàn bò; sự sầu muộn của con người là do các chấp thủ. Người không có chấp thủ thì không sầu muộn.’
Atha kho māro pāpimā “jānāti maṁ bhagavā, jānāti maṁ sugato”ti dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.
Then Māra the Wicked, thinking, “The Buddha knows me! The Holy One knows me!” miserable and sad, vanished right there.
Khi ấy, Ác ma Pāpimā, (nghĩ rằng): ‘Đức Thế Tôn biết ta, đức Thiện Thệ biết ta,’ buồn bã, thất vọng, liền biến mất ngay tại chỗ ấy.