- Saṁyutta Nikāya 4.22
- 3. Tatiyavagga
Bản dịch
SN 4.22 — Kinh Samiddhi
Samiddhisutta
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở giữa các vị Sakkà, tại Silàvatii.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Tôn giả Samiddhi sống không xa Thế Tôn, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
Vi-n 3 Rồi Tôn giả Samiddhi, trong khi Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi bậc Ðạo Sư của ta là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác! Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi ta được xuất gia trong Pháp và Luật khéo giảng! Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi những vị đồng Phạm hạnh với ta là những bậc trì giới và hành trì thiện pháp!”
Vi-n 4 Rồi Ác ma với tâm tư của mình biết được tâm tư của Tôn giả Samiddhi, liền đi đến Tôn giả Samiddhi. Sau khi đến, không xa Tôn giả Samiddhi, Ác ma hét lên tiếng hét to lớn, rùng rợn, khiến người ta nghĩ như là quả đất vỡ tung.
Vi-n 5 Rồi Tôn giả Samiddhi đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Samiddhi bạch Thế Tôn:
Vi-n 6 —Bạch Thế Tôn, con sống không xa Thế Tôn, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Bạch Thế Tôn, trong khi con Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi bậc Ðạo Sư của ta là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác! Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi ta được xuất gia trong Pháp và Luật khéo giảng! Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi các vị đồng Phạm hạnh với ta là những bậc trì giới và hành trì thiện pháp!” Khi ấy, bạch Thế Tôn, không xa con, một tiếng hét to lớn rùng rợn khởi lên, khiến người ta nghĩ như là quả đất vỡ tung.
Vi-n 7 —Này Samiddhi, không phải quả đất vỡ tung đâu. Ðó là Ác ma đã đến để làm mờ mắt Ông. Này Samiddhi, Ông hãy đến tại chỗ ấy và sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
Vi-n 8 —Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Samiddhi vâng đáp Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, rồi ra đi.
Vi-n 9 Lần thứ hai, Tôn giả Samiddhi tại chỗ ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Lần thứ hai, trong khi Tôn giả Samiddhi Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Thật lợi ích thay cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi bậc Ðạo Sư của ta là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác! Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta khi…, … và hành trì thiện pháp!”. Lần thứ hai, Ác ma biết được tư tưởng của Tôn giả Samiddhi…, … khiến người ta nghĩ như là quả đất vỡ tung.
Vi-n 10 Rồi Tôn giả Samiddhi, sau khi biết: “Ðây là Ác ma” liền nói lên bài kệ với Ác ma:
Ta với lòng tín ngưỡng,
Bỏ gia đình, xuất gia,
Niệm tuệ ta tăng trưởng,
Tâm tư ta Thiền định.
Dầu Ông tạo sắc gì,
Không làm ta sợ hãi.
Vi-n 11 Rồi Ác ma biết được: “Tỷ-kheo Samiddhi biết ta”, buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 4.22
- 3. Māra
With Samiddhi
2. Kinh Samiddhi
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sakkesu viharati silāvatiyaṁ.
Tena kho pana samayena āyasmā samiddhi bhagavato avidūre appamatto ātāpī pahitatto viharati. Atha kho āyasmato samiddhissa rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi: “lābhā vata me, suladdhaṁ vata me, yassa me satthā arahaṁ sammāsambuddho. Lābhā vata me, suladdhaṁ vata me, yvāhaṁ evaṁ svākkhāte dhammavinaye pabbajito. Lābhā vata me, suladdhaṁ vata me, yassa me sabrahmacārino sīlavanto kalyāṇadhammā”ti.
Atha kho māro pāpimā āyasmato samiddhissa cetasā cetoparivitakkamaññāya yenāyasmā samiddhi tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmato samiddhissa avidūre mahantaṁ bhayabheravaṁ saddamakāsi, apissudaṁ pathavī maññe undrīyati.
At one time the Buddha was staying in the land of the Sakyans near Silāvatī.
Now at that time Venerable Samiddhi was meditating not far from the Buddha, diligent, keen, and resolute. Then as Venerable Samiddhi was in private retreat this thought came to his mind, “I’m so fortunate, so very fortunate, to have a teacher who is a perfected one, a fully awakened Buddha! I’m so fortunate, so very fortunate, to have gone forth in a teaching and training so well explained! I’m so fortunate, so very fortunate, to have spiritual companions who are ethical and of good character.”
And then Māra the Wicked, knowing Samiddhi’s train of thought, went up to him and made a terrifyingly loud noise close by him. It seemed as if the earth was shattering.
158. Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Sakka, tại Silāvatī. Lúc bấy giờ, Tôn giả Samiddhi đang sống không xa Thế Tôn, không dể duôi, nhiệt tâm, tinh cần. Rồi Tôn giả Samiddhi, khi ở một mình, nơi vắng vẻ, đã khởi lên suy nghĩ trong tâm như vầy: ‘Thật là lợi ích cho ta, thật là khéo được cho ta, khi bậc Đạo Sư của ta là bậc A la hán, Chánh Đẳng Giác. Thật là lợi ích cho ta, thật là khéo được cho ta, khi ta được xuất gia trong Pháp và Luật đã được khéo thuyết giảng như vậy. Thật là lợi ích cho ta, thật là khéo được cho ta, khi các vị đồng phạm hạnh của ta là những người có giới hạnh, có thiện pháp.’ Rồi Ác ma, Ma vương, với tâm của mình biết được suy nghĩ trong tâm của Tôn giả Samiddhi, liền đi đến Tôn giả Samiddhi. Sau khi đến, ở không xa Tôn giả Samiddhi, nó đã tạo ra một tiếng động lớn, đáng sợ, kinh hãi, dường như mặt đất đang vỡ ra.
Atha kho āyasmā samiddhi yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno āyasmā samiddhi bhagavantaṁ etadavoca: “idhāhaṁ, bhante, bhagavato avidūre appamatto ātāpī pahitatto viharāmi. Tassa mayhaṁ, bhante, rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi: ‘lābhā vata me, suladdhaṁ vata me, yassa me satthā arahaṁ sammāsambuddho. Lābhā vata me, suladdhaṁ vata me, yvāhaṁ evaṁ svākkhāte dhammavinaye pabbajito. Lābhā vata me, suladdhaṁ vata me, yassa me sabrahmacārino sīlavanto kalyāṇadhammā’ti. Tassa mayhaṁ, bhante, avidūre mahābhayabheravasaddo ahosi, apissudaṁ pathavī maññe undrīyatī”ti.
Then Samiddhi went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened. The Buddha said,
Rồi Tôn giả Samiddhi đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, ngài đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Samiddhi bạch với Thế Tôn: ‘Bạch Thế Tôn, ở đây con đang sống không xa Thế Tôn, không dể duôi, nhiệt tâm, tinh cần. Bạch Thế Tôn, khi con ở một mình, nơi vắng vẻ, đã khởi lên suy nghĩ trong tâm như vầy: ‘Thật là lợi ích cho ta, thật là khéo được cho ta, khi bậc Đạo Sư của ta là bậc A la hán, Chánh Đẳng Giác. Thật là lợi ích cho ta, thật là khéo được cho ta, khi ta được xuất gia trong Pháp và Luật đã được khéo thuyết giảng như vậy. Thật là lợi ích cho ta, thật là khéo được cho ta, khi các vị đồng phạm hạnh của ta là những người có giới hạnh, có thiện pháp.’ Bạch Thế Tôn, ở không xa con, đã có một tiếng động lớn, đáng sợ, kinh hãi, dường như mặt đất đang vỡ ra.’
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā samiddhi bhagavato paṭissutvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Dutiyampi kho āyasmā samiddhi tattheva appamatto ātāpī pahitatto vihāsi. Dutiyampi kho āyasmato samiddhissa rahogatassa paṭisallīnassa …pe… dutiyampi kho māro pāpimā āyasmato samiddhissa cetasā cetoparivitakkamaññāya …pe… apissudaṁ pathavī maññe undrīyati.
Atha kho āyasmā samiddhi māraṁ pāpimantaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
“Yes, sir,” replied Samiddhi. He rose from his seat, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before leaving.
And for a second time Samiddhi was meditating in that same place, diligent, ardent, and resolute. And for a second time he had the same thought … and Māra made an earth-shattering noise.
Then Samiddhi addressed Māra the Wicked in verse:
“Này Samiddhi, đây không phải là đất rung chuyển. Đây là Ác ma đến để phá hoại con mắt trí tuệ của ngươi. Này Samiddhi, ngươi hãy đi, hãy ở ngay tại nơi ấy, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.” “Vâng, bạch Thế Tôn.” Tôn giả Samiddhi vâng lời Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh bên phải rồi ra đi. Lần thứ hai, Tôn giả Samiddhi ở ngay tại nơi ấy, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Lần thứ hai, khi Tôn giả Samiddhi ở nơi thanh vắng, độc cư... Lần thứ hai, Ác ma biết được tâm niệm của Tôn giả Samiddhi bằng tâm của mình... (và nghĩ rằng): “Ta cho rằng quả đất này đang rung chuyển.” Bấy giờ, Tôn giả Samiddhi nói với Ác ma bằng một bài kệ:
“Saddhāyāhaṁ pabbajito, agārasmā anagāriyaṁ; Sati paññā ca me buddhā, cittañca susamāhitaṁ; Kāmaṁ karassu rūpāni, neva maṁ byādhayissasī”ti.
“I went forth out of faith from the lay life to homelessness. My mindfulness and wisdom are mature, my mind is serene in immersion. Make whatever illusions you want, it won’t bother me.”
“Ta với lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Niệm và tuệ của ta đã được giác ngộ, và tâm ta đã được khéo định tĩnh. Ngươi cứ tùy ý tạo ra các hình sắc, ngươi sẽ không thể làm ta dao động.”
Atha kho māro pāpimā “jānāti maṁ samiddhi bhikkhū”ti dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.
Then Māra the Wicked, thinking, “The mendicant Samiddhi knows me!” miserable and sad, vanished right there.
Bấy giờ, Ác ma nghĩ rằng: “Tỳ khưu Samiddhi đã biết ta,” liền buồn bã, thất vọng, và biến mất ngay tại chỗ ấy.