- Saṁyutta Nikāya 4.1
- 1. Paṭhamavagga
Tapokammasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Tapokammasutta
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Uruvelà bên bờ sông Neranjarà, dưới gốc cây Ajapāla Nigrodha, khi Ngài vừa giác ngộ.
Vi-n 2 Rồi Thế Tôn trong khi Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Thật sự Ta được giải thoát khỏi khổ hạnh ấy. Tốt lành thay, thật sự Ta được giải thoát khỏi khổ hạnh không liên hệ đến lợi ích ấy! Tốt lành thay, Ta kiên trì, chánh niệm, chứng đạt Bồ-đề!”
Vi-n 3 Rồi Ác ma với tâm tư của mình biết được tâm tư của Thế Tôn, liền đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên bài kệ này với Thế Tôn:
Từ bỏ pháp khổ hạnh,
Giúp thanh niên trong sạch,
Không tịnh, nghĩ mình tịnh,
Ði ngược thanh tịnh đạo.
Vi-n 4 Rồi Thế Tôn, biết được: “Ðây là Ác ma”, liền nói lên bài kệ với Ác ma:
Biết được pháp khổ hạnh,
Ðược xem là bất tử,
Pháp ấy không lợi ích,
Không đem lợi ích nào,
Như chèo và bánh lái,
Chiếc thuyền trên đất cạn.
Giới, định và trí tuệ,
Con đường hướng chánh giác.
Ta tu tập hạnh ấy,
Ðạt được tối thắng tịnh,
Này kẻ Tử ma kia,
Ông bị bại trận rồi.
Vi-n 5 Rồi Ác ma biết được: “Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta”, buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
1. Kinh Khổ Hạnh
Atha kho bhagavato rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi: “mutto vatamhi tāya dukkarakārikāya. Sādhu mutto vatamhi tāya anatthasaṁhitāya dukkarakārikāya. Sādhu vatamhi mutto bodhiṁ samajjhagan”ti.
Then as he was in private retreat this thought came to his mind, “I am truly freed from that grueling work! Thank goodness I’m freed from that pointless grueling work. Thank goodness I’m freed and have attained awakening.”
137. Tôi nghe như vầy. Một thời Thế Tôn, sau khi mới thành Chánh giác, trú ở Uruvelā, bên bờ sông Nerañjarā, dưới cội cây Ajapāla Nigrodha. Bấy giờ, khi Thế Tôn đang độc cư thiền tịnh, một tư duy như sau khởi lên trong tâm Ngài: ‘Ta thật đã được giải thoát khỏi pháp khổ hạnh ấy. Lành thay, ta đã được giải thoát khỏi pháp khổ hạnh vô ích ấy. Lành thay, ta đã được giải thoát và đã chứng đắc Bồ-đề.’”
Atha kho māro pāpimā bhagavato cetasā cetoparivitakkamaññāya yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
And then Māra the Wicked, knowing the Buddha’s train of thought, went up to him and addressed him in verse:
Bấy giờ, Ác ma Māra, với tâm của mình biết được tư duy trong tâm của Thế Tôn, liền đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, nói lên kệ này với Thế Tôn:
“Tapokammā apakkamma, yena sujjhanti māṇavā; Asuddho maññasi suddho, suddhimaggā aparaddho”ti.
“You’ve left the practice of mortification by which sons of men purify themselves. You’re impure, but think yourself pure; you’ve strayed from the path of purity.”
“Từ bỏ pháp khổ hạnh, mà chúng sanh không được thanh tịnh, Ngài chưa thanh tịnh lại nghĩ mình thanh tịnh, đã lạc xa con đường thanh tịnh.”
Atha kho bhagavā “māro ayaṁ pāpimā” iti viditvā māraṁ pāpimantaṁ gāthāhi ajjhabhāsi:
Then the Buddha, knowing that this was Māra the Wicked, replied to him in verse:
Bấy giờ, Thế Tôn, biết rằng: ‘Đây là Ác ma Māra,’ liền nói những câu kệ này với Ác ma Māra:
“Anatthasaṁhitaṁ ñatvā, yaṁ kiñci amaraṁ tapaṁ; Sabbaṁ natthāvahaṁ hoti, phiyārittaṁva dhammani.
“I realized that it’s pointless; all that endless mortification is as futile as oars and rudder on dry land.
“Biết rằng không liên hệ đến lợi ích, bất cứ khổ hạnh nào để được bất tử; tất cả đều không mang lại lợi ích, giống như mái chèo trên đất liền là vô ích.”
Sīlaṁ samādhi paññañca, Maggaṁ bodhāya bhāvayaṁ; Pattosmi paramaṁ suddhiṁ, Nihato tvamasi antakā”ti.
Ethics, immersion, and wisdom: by developing this path to awakening I attained ultimate purity. You’re beaten, terminator!”
“Tu tập giới, định, và tuệ, con đường để giác ngộ, Ta đã đạt đến sự thanh tịnh tối thượng. Này Kẻ Kết Liễu, ngươi đã bị đánh bại.”
Atha kho māro pāpimā “jānāti maṁ bhagavā, jānāti maṁ sugato”ti, dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.
Then Māra the Wicked, thinking, “The Buddha knows me! The Holy One knows me!” miserable and sad, vanished right there.
Bấy giờ, Ác ma Māra (nghĩ rằng): ‘Thế Tôn biết ta, Thiện Thệ biết ta,’ rồi buồn rầu, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.