- Saṁyutta Nikāya 38.9
- 1. Jambukhādakavagga
Bản dịch
SN 38.9 — Kinh Vấn Đáp Về Vô Minh
Avijjāpañhāsutta
Vi-n 3 : “Vô minh, vô minh”, này Hiền giả Sāriputta, được nói đến như vậy. Này Hiền giả, thế nào là vô minh?
—Này Hiền giả, không biết rõ đối với khổ, không biết rõ đối với khổ tập khởi, không biết rõ đối với khổ đoạn diệt, không biết rõ đối với con đường đưa đến khổ đoạn diệt, này Hiền giả, đây gọi là vô minh.
Vi-n 4 —Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến đoạn tận vô minh ấy?
—Này Hiền giả, có con đường, có đạo lộ đưa đến đoạn tận vô minh ấy?
Vi-n 5-6. (Như kinh trên, số 5 và số 6, với những thay đổi cần thiết).
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 38.9
- 1. With Jambukhādaka
A Question About Ignorance
9. Kinh Vấn Đáp Về Vô Minh
“‘Avijjā, avijjā’ti, āvuso sāriputta, vuccati. Katamā nu kho, āvuso, avijjā”ti?
“Yaṁ kho, āvuso, dukkhe aññāṇaṁ, dukkhasamudaye aññāṇaṁ, dukkhanirodhe aññāṇaṁ, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya aññāṇaṁ—ayaṁ vuccatāvuso, avijjā”ti.
“Atthi panāvuso, maggo atthi paṭipadā, etissā avijjāya pahānāyā”ti?
“Atthi kho, āvuso, maggo atthi paṭipadā, etissā avijjāya pahānāyā”ti.
“Katamo panāvuso, maggo katamā paṭipadā, etissā avijjāya pahānāyā”ti? “Ayameva kho, āvuso, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, etissā avijjāya pahānāya, seyyathidaṁ—
“Reverend Sāriputta, they speak of this thing called ‘ignorance’. What is ignorance?”
“Not knowing about suffering, the origin of suffering, the cessation of suffering, and the practice that leads to the cessation of suffering. This is called ignorance.”
“But, reverend, is there a path and a practice for giving up that ignorance?”
“There is.” …
322. “Này hiền giả Sāriputta, được gọi là ‘vô minh, vô minh’. Này hiền giả, thế nào là vô minh?” “Này hiền giả, sự không biết về khổ, sự không biết về khổ tập, sự không biết về khổ diệt, sự không biết về con đường đưa đến khổ diệt – này hiền giả, đây được gọi là vô minh.” “Này hiền giả, có con đường nào, có pháp hành nào để đoạn trừ vô minh này không?” “Này hiền giả, có con đường, có pháp hành để đoạn trừ vô minh này.” “Này hiền giả, con đường nào, pháp hành nào để đoạn trừ vô minh này?” “Này hiền giả, chính là Thánh đạo Tám ngành này để đoạn trừ vô minh này, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này hiền giả, đây là con đường, đây là pháp hành để đoạn trừ vô minh này.” “Này hiền giả, con đường là tốt lành, pháp hành là tốt lành để đoạn trừ vô minh này. Và này hiền giả Sāriputta, thật là thích đáng để không dể duôi.” (Kinh thứ chín).
Navamaṁ.
321. “Này hiền giả Sāriputta, được gọi là ‘lậu hoặc, lậu hoặc’. Này hiền giả, thế nào là lậu hoặc?” “Này hiền giả, có ba loại lậu hoặc này: dục lậu, hữu lậu, và vô minh lậu – này hiền giả, đây là ba loại lậu hoặc.” “Này hiền giả, có con đường nào, có pháp hành nào để đoạn trừ các lậu hoặc này không?” “Này hiền giả, có con đường, có pháp hành để đoạn trừ các lậu hoặc này.” “Này hiền giả, con đường nào, pháp hành nào để đoạn trừ các lậu hoặc này?” “Này hiền giả, chính là Thánh đạo Tám ngành này để đoạn trừ các lậu hoặc này, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này hiền giả, đây là con đường, đây là pháp hành để đoạn trừ các lậu hoặc này.” “Này hiền giả, con đường là tốt lành, pháp hành là tốt lành để đoạn trừ các lậu hoặc này. Và này hiền giả Sāriputta, thật là thích đáng để không dể duôi.” (Kinh thứ tám).