- Saṁyutta Nikāya 38.8
- 1. Jambukhādakavagga
Bản dịch
SN 38.8 — Kinh Vấn Đáp Về Lậu Hoặc
Āsavapañhāsutta
Vi-n 3 : “Lậu hoặc, lậu hoặc”, này Hiền giả Sāriputta, được nói đến như vậy. Này Hiền giả, thế nào là lậu hoặc?
—Có ba lậu hoặc này, này Hiền giả, dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Này Hiền giả, đây là ba lậu hoặc này.
Vi-n 4 —Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến đoạn tận các lậu hoặc ấy?
—Này Hiền giả, có con đường, có đạo lộ đưa đến đoạn tận các lậu hoặc ấy.
Vi-n 5 (Như kinh trên, số 5 và 6, với những thay đổi cần thiết).
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 38.8
- 1. With Jambukhādaka
A Question About Defilements
8. Kinh Vấn Đáp Về Lậu Hoặc
“‘Āsavo, āsavo’ti, āvuso sāriputta, vuccati. Katamo nu kho, āvuso, āsavo”ti?
“Tayo me, āvuso, āsavā. Kāmāsavo, bhavāsavo, avijjāsavo—ime kho, āvuso, tayo āsavā”ti.
“Atthi panāvuso, maggo atthi paṭipadā etesaṁ āsavānaṁ pahānāyā”ti?
“Atthi kho, āvuso, maggo atthi paṭipadā etesaṁ āsavānaṁ pahānāyā”ti.
“Katamo panāvuso, maggo katamā paṭipadā etesaṁ āsavānaṁ pahānāyā”ti? “Ayameva kho, āvuso, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo etesaṁ āsavānaṁ pahānāya, seyyathidaṁ—
“Reverend Sāriputta, they speak of this thing called ‘defilement’. What is defilement?”
“Reverend, there are three defilements. The defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance. These are the three defilements.”
“But, reverend, is there a path and a practice for completely understanding these three defilements?”
“There is.” …
321. “Này hiền giả Sāriputta, được gọi là ‘lậu hoặc, lậu hoặc’. Này hiền giả, thế nào là lậu hoặc?” “Này hiền giả, có ba loại lậu hoặc này: dục lậu, hữu lậu, và vô minh lậu – này hiền giả, đây là ba loại lậu hoặc.” “Này hiền giả, có con đường nào, có pháp hành nào để đoạn trừ các lậu hoặc này không?” “Này hiền giả, có con đường, có pháp hành để đoạn trừ các lậu hoặc này.” “Này hiền giả, con đường nào, pháp hành nào để đoạn trừ các lậu hoặc này?” “Này hiền giả, chính là Thánh đạo Tám ngành này để đoạn trừ các lậu hoặc này, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này hiền giả, đây là con đường, đây là pháp hành để đoạn trừ các lậu hoặc này.” “Này hiền giả, con đường là tốt lành, pháp hành là tốt lành để đoạn trừ các lậu hoặc này. Và này hiền giả Sāriputta, thật là thích đáng để không dể duôi.” (Kinh thứ tám).
Aṭṭhamaṁ.
320. “Này hiền giả Sāriputta, được gọi là ‘cảm thọ, cảm thọ’. Này hiền giả, thế nào là cảm thọ?” “Này hiền giả, có ba loại cảm thọ này. Ba loại nào? Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ không khổ không lạc – này hiền giả, đây là ba loại cảm thọ.” “Này hiền giả, có con đường nào, có pháp hành nào để liễu tri ba loại cảm thọ này không?” “Này hiền giả, có con đường, có pháp hành để liễu tri ba loại cảm thọ này.” “Này hiền giả, con đường nào, pháp hành nào để liễu tri ba loại cảm thọ này?” “Này hiền giả, chính là Thánh đạo Tám ngành này để liễu tri ba loại cảm thọ này, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này hiền giả, đây là con đường, đây là pháp hành để liễu tri ba loại cảm thọ này.” “Này hiền giả, con đường là tốt lành, pháp hành là tốt lành để liễu tri ba loại cảm thọ này. Và này hiền giả Sāriputta, thật là thích đáng để không dể duôi.” (Kinh thứ bảy).