- Saṁyutta Nikāya 38.10
- 1. Jambukhādakavagga
Bản dịch
SN 38.10 — Kinh Vấn Đáp Về Ái Dục
Taṇhāpañhāsutta
Vi-n 3 “Khát ái, khát ái”, này Hiền giả Sāriputta, được nói đến như vậy. Này Hiền giả, thế nào là khát ái?
—Có ba ái này, này Hiền giả, dục ái, hữu ái, vô hữu ái. Này Hiền giả, đây là ba khát ái này.
Vi-n 4 —Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến đoạn tận các khát ái ấy?
—Này Hiền giả, có con đường, có đạo lộ đưa đến đoạn tận các khát ái ấy.
Vi-n 5-6. (Như kinh trước, số 5 và 6, với những thay đổi cần thiết).
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 38.10
- 1. With Jambukhādaka
A Question About Craving
10. Kinh Vấn Đáp Về Ái Dục
“‘Taṇhā, taṇhā’ti, āvuso sāriputta, vuccati. Katamā nu kho, āvuso, taṇhā”ti?
“Tisso imā, āvuso, taṇhā. Kāmataṇhā, bhavataṇhā, vibhavataṇhā—imā kho, āvuso, tisso taṇhā”ti.
“Atthi panāvuso, maggo atthi paṭipadā, etāsaṁ taṇhānaṁ pahānāyā”ti?
“Atthi kho, āvuso, maggo atthi paṭipadā, etāsaṁ taṇhānaṁ pahānāyā”ti.
“Katamo panāvuso, maggo katamā paṭipadā, etāsaṁ taṇhānaṁ pahānāyā”ti? “Ayameva kho, āvuso, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, etāsaṁ taṇhānaṁ pahānāya, seyyathidaṁ—
“Reverend Sāriputta, they speak of this thing called ‘craving’. What is craving?”
“Reverend, there are these three cravings. Craving for sensual pleasures, craving for continued existence, and craving for nonexistence. These are the three cravings.”
“But, reverend, is there a path and a practice for completely understanding these cravings?”
“There is.” …
323. “Này hiền giả Sāriputta, được gọi là ‘ái dục, ái dục’. Này hiền giả, thế nào là ái dục?” “Này hiền giả, có ba loại ái dục này: dục ái, hữu ái, và phi hữu ái – này hiền giả, đây là ba loại ái dục.” “Này hiền giả, có con đường nào, có pháp hành nào để đoạn trừ các ái dục này không?” “Này hiền giả, có con đường, có pháp hành để đoạn trừ các ái dục này.” “Này hiền giả, con đường nào, pháp hành nào để đoạn trừ các ái dục này?” “Này hiền giả, chính là Thánh đạo Tám ngành này để đoạn trừ các ái dục này, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này hiền giả, đây là con đường, đây là pháp hành để đoạn trừ các ái dục này.” “Này hiền giả, con đường là tốt lành, pháp hành là tốt lành để đoạn trừ các ái dục này. Và này hiền giả Sāriputta, thật là thích đáng để không dể duôi.” (Kinh thứ mười).
Dasamaṁ.
322. “Này hiền giả Sāriputta, được gọi là ‘vô minh, vô minh’. Này hiền giả, thế nào là vô minh?” “Này hiền giả, sự không biết về khổ, sự không biết về khổ tập, sự không biết về khổ diệt, sự không biết về con đường đưa đến khổ diệt – này hiền giả, đây được gọi là vô minh.” “Này hiền giả, có con đường nào, có pháp hành nào để đoạn trừ vô minh này không?” “Này hiền giả, có con đường, có pháp hành để đoạn trừ vô minh này.” “Này hiền giả, con đường nào, pháp hành nào để đoạn trừ vô minh này?” “Này hiền giả, chính là Thánh đạo Tám ngành này để đoạn trừ vô minh này, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này hiền giả, đây là con đường, đây là pháp hành để đoạn trừ vô minh này.” “Này hiền giả, con đường là tốt lành, pháp hành là tốt lành để đoạn trừ vô minh này. Và này hiền giả Sāriputta, thật là thích đáng để không dể duôi.” (Kinh thứ chín).