- Saṁyutta Nikāya 38.7
- 1. Jambukhādakavagga
Bản dịch
SN 38.7 — Kinh Vấn Đáp Về Cảm Thọ
Vedanāpañhāsutta
Vi-n 3 : “Thọ, thọ”, này Hiền giả Sāriputta, được nói đến như vậy. Này Hiền giả, thế nào là thọ?
—Có ba thọ, này Hiền giả, lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Này Hiền giả, đây là những thọ này.
Vi-n 4 —Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến liễu tri những thọ ấy?
—Này Hiền giả, có con đường, có đạo lộ đưa đến liễu tri những thọ ấy.
Vi-n 5 —Này Hiền giả, con đường ấy là gì, đạo lộ ấy là gì đưa đến liễu tri những thọ ấy?. (như kinh trên, số 5 và số 6, với những thay đổi cần thiết).
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 38.7
- 1. With Jambukhādaka
A Question About Feeling
7. Kinh Vấn Đáp Về Cảm Thọ
“‘Vedanā, vedanā’ti, āvuso sāriputta, vuccati. Katamā nu kho, āvuso, vedanā”ti?
“Tisso imāvuso, vedanā. Katamā tisso? Sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā—imā kho, āvuso, tisso vedanā”ti.
“Atthi panāvuso, maggo atthi paṭipadā, etāsaṁ tissannaṁ vedanānaṁ pariññāyā”ti?
“Atthi kho, āvuso, maggo atthi paṭipadā, etāsaṁ tissannaṁ vedanānaṁ pariññāyā”ti.
“Katamo panāvuso, maggo katamā paṭipadā, etāsaṁ tissannaṁ vedanānaṁ pariññāyā”ti? “Ayameva kho, āvuso, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, etāsaṁ tissannaṁ vedanānaṁ pariññāya, seyyathidaṁ—
“Reverend Sāriputta, they speak of this thing called ‘feeling’. What is feeling?”
“Reverend, there are three feelings. What three? Pleasant, painful, and neutral feeling. These are the three feelings.”
“But reverend, is there a path and a practice for completely understanding these three feelings?”
“There is.” …
320. “Này hiền giả Sāriputta, được gọi là ‘cảm thọ, cảm thọ’. Này hiền giả, thế nào là cảm thọ?” “Này hiền giả, có ba loại cảm thọ này. Ba loại nào? Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ không khổ không lạc – này hiền giả, đây là ba loại cảm thọ.” “Này hiền giả, có con đường nào, có pháp hành nào để liễu tri ba loại cảm thọ này không?” “Này hiền giả, có con đường, có pháp hành để liễu tri ba loại cảm thọ này.” “Này hiền giả, con đường nào, pháp hành nào để liễu tri ba loại cảm thọ này?” “Này hiền giả, chính là Thánh đạo Tám ngành này để liễu tri ba loại cảm thọ này, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này hiền giả, đây là con đường, đây là pháp hành để liễu tri ba loại cảm thọ này.” “Này hiền giả, con đường là tốt lành, pháp hành là tốt lành để liễu tri ba loại cảm thọ này. Và này hiền giả Sāriputta, thật là thích đáng để không dể duôi.” (Kinh thứ bảy).
Sattamaṁ.
319. “Này hiền giả Sāriputta, được gọi là: ‘người đạt được an ủi tối thượng, người đạt được an ủi tối thượng’. Này hiền giả, với mức độ nào thì một người được gọi là đã đạt được an ủi tối thượng?” “Này hiền giả, khi vị tỳ khưu, sau khi đã tuệ tri đúng như thật về sự sanh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của sáu xứ xúc, được giải thoát không còn chấp thủ, này hiền giả, với mức độ ấy, một người được gọi là đã đạt được an ủi tối thượng.” “Này hiền giả, có con đường, có pháp hành để chứng ngộ sự an ủi tối thượng này không?” “Này hiền giả, có con đường, có pháp hành để chứng ngộ sự an ủi tối thượng này.” “Này hiền giả, con đường nào, pháp hành nào để chứng ngộ sự an ủi tối thượng này?” “Này hiền giả, chính là Thánh đạo Tám ngành này để chứng ngộ sự an ủi tối thượng này, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này hiền giả, đây là con đường, đây là pháp hành để chứng ngộ sự an ủi tối thượng này.” “Này hiền giả, con đường thật tốt lành, pháp hành thật tốt lành, để chứng ngộ sự an ủi tối thượng này. Này hiền giả Sāriputta, thật là đủ để không dể duôi.” Kinh thứ sáu.