- Saṁyutta Nikāya 38.6
- 1. Jambukhādakavagga
Bản dịch
SN 38.6 — Kinh Đạt Được An Ủi Tối Thượng
Paramassāsappattasutta
Vi-n 3 : “Ðạt đến điều hòa hơi thở tối thượng, đạt đến điều hòa hơi thở tối thượng”, này Hiền giả Sāriputta, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, này Hiền giả, là đạt đến điều hòa hơi thở tối thượng?
—Này Hiền giả, Tỷ-kheo sau khi như thật tuệ tri sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sáu xúc xứ, được giải thoát không có chấp thủ; cho đến như vậy, này Hiền giả, là sự chứng đạt điều hòa hơi thở tối thượng.
Vi-n 4 —Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến chứng đắc điều hòa hơi thở tối thượng ấy?
—Này Hiền giả, có con đường, có đạo lộ đưa đến chứng đắc điều hòa hơi thở tối thượng ấy.
Vi-n 5 —Này Hiền giả, con đường ấy là gì … (như kinh trên, số 5 và 6).
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 38.6
- 1. With Jambukhādaka
Ultimate Solace
6. Kinh Đạt Được An Ủi Tối Thượng
“‘Paramassāsappatto, paramassāsappatto’ti, āvuso sāriputta, vuccati. Kittāvatā nu kho, āvuso, paramassāsappatto hotī”ti?
“Yato kho, āvuso, bhikkhu channaṁ phassāyatanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ viditvā anupādāvimutto hoti, ettāvatā kho, āvuso, paramassāsappatto hotī”ti.
“Atthi panāvuso, maggo atthi paṭipadā, etassa paramassāsassa sacchikiriyāyā”ti?
“Atthi kho, āvuso, maggo atthi paṭipadā, etassa paramassāsassa sacchikiriyāyā”ti.
“Katamo pana, āvuso, maggo katamā paṭipadā, etassa paramassāsassa sacchikiriyāyā”ti? “Ayameva kho, āvuso, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo etassa paramassāsassa sacchikiriyāya, seyyathidaṁ—
“Reverend Sāriputta, they speak of this thing called ‘gaining ultimate solace’. At what point do you gain ultimate solace?”
“When a mendicant is freed by not grasping after truly understanding the six fields of contact’s origin, disappearance, gratification, drawback, and escape, at that point they’ve gained ultimate solace.”
“But, reverend, is there a path and a practice for realizing this ultimate solace?”
“There is.” …
319. “Này hiền giả Sāriputta, được gọi là: ‘người đạt được an ủi tối thượng, người đạt được an ủi tối thượng’. Này hiền giả, với mức độ nào thì một người được gọi là đã đạt được an ủi tối thượng?” “Này hiền giả, khi vị tỳ khưu, sau khi đã tuệ tri đúng như thật về sự sanh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của sáu xứ xúc, được giải thoát không còn chấp thủ, này hiền giả, với mức độ ấy, một người được gọi là đã đạt được an ủi tối thượng.” “Này hiền giả, có con đường, có pháp hành để chứng ngộ sự an ủi tối thượng này không?” “Này hiền giả, có con đường, có pháp hành để chứng ngộ sự an ủi tối thượng này.” “Này hiền giả, con đường nào, pháp hành nào để chứng ngộ sự an ủi tối thượng này?” “Này hiền giả, chính là Thánh đạo Tám ngành này để chứng ngộ sự an ủi tối thượng này, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này hiền giả, đây là con đường, đây là pháp hành để chứng ngộ sự an ủi tối thượng này.” “Này hiền giả, con đường thật tốt lành, pháp hành thật tốt lành, để chứng ngộ sự an ủi tối thượng này. Này hiền giả Sāriputta, thật là đủ để không dể duôi.” Kinh thứ sáu.
Chaṭṭhaṁ.
318. “Này hiền giả Sāriputta, được gọi là: ‘người đạt được an ủi, người đạt được an ủi’. Này hiền giả, với mức độ nào thì một người được gọi là đã đạt được an ủi?” “Này hiền giả, khi vị tỳ khưu tuệ tri đúng như thật về sự sanh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của sáu xứ xúc, này hiền giả, với mức độ ấy, một người được gọi là đã đạt được an ủi.” “Này hiền giả, có con đường, có pháp hành để chứng ngộ sự an ủi này không?” “Này hiền giả, có con đường, có pháp hành để chứng ngộ sự an ủi này.” “Này hiền giả, con đường nào, pháp hành nào để chứng ngộ sự an ủi này?” “Này hiền giả, chính là Thánh đạo Tám ngành này để chứng ngộ sự an ủi này, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này hiền giả, đây là con đường, đây là pháp hành để chứng ngộ sự an ủi này.” “Này hiền giả, con đường thật tốt lành, pháp hành thật tốt lành, để chứng ngộ sự an ủi này. Này hiền giả Sāriputta, thật là đủ để không dể duôi.” Kinh thứ năm.