- Saṁyutta Nikāya 38.4
- 1. Jambukhādakavagga
Bản dịch
SN 38.4 — Kinh Về Mục Đích
Kimatthiyasutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Với mục đích gì, này Hiền giả Sāriputta, Phạm hạnh được sống dưới Sa-môn Gotama?
—Này Hiền giả, Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn với mục đích liễu tri khổ.
Vi-n 3 —Có con đường nào, có đạo lộ nào, này Hiền giả, đưa đến liễu tri khổ ấy?
—Có con đường, có đạo lộ, này Hiền giả, đưa đến liễu tri khổ ấy.
Vi-n 4 —Con đường ấy là gì, đạo lộ ấy là gì, này Hiền giả, đưa đến liễu tri khổ ấy?
—Ðấy là Thánh đạo Tám ngành, này Hiền giả, tức là chánh tri kiến … chánh định. Ðây là con đường, đây là đạo lộ, này Hiền giả, đưa đến liễu tri khổ ấy.
Vi-n 5 —Này Hiền giả, hiền thiện là con đường, hiền thiện là đạo lộ đưa đến liễu tri khổ ấy. Thật là vừa đủ, này Hiền giả, để không phóng dật.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 38.4
- 1. With Jambukhādaka
What’s the Goal?
4. Kinh Về Mục Đích
“Kimatthiyaṁ, āvuso sāriputta, samaṇe gotame brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“Dukkhassa kho, āvuso, pariññatthaṁ bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti.
“Atthi panāvuso, maggo atthi paṭipadā etassa dukkhassa pariññāyā”ti?
“Atthi kho, āvuso, maggo atthi paṭipadā, etassa dukkhassa pariññāyā”ti?
“Katamo panāvuso, maggo katamā paṭipadā, etassa dukkhassa pariññāyā”ti?
“Reverend Sāriputta, what’s the goal of leading the spiritual life under the ascetic Gotama?”
“The goal of leading the spiritual life under the Buddha is to completely understand suffering.”
“But, reverend, is there a path and a practice for completely understanding this suffering?”
“There is.” …
317. “Này hiền giả Sāriputta, vì mục đích gì mà sống đời phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Sa-môn Gotama?” “Này hiền giả, sống đời phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Đức Thế Tôn là vì mục đích liễu tri khổ.” “Này hiền giả, có con đường, có pháp hành để liễu tri khổ này không?” “Này hiền giả, có con đường, có pháp hành để liễu tri khổ này.” “Này hiền giả, con đường nào, pháp hành nào để liễu tri khổ này?”
“Ayameva kho, āvuso, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, etassa dukkhassa pariññāya, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi. Ayaṁ kho, āvuso, maggo ayaṁ paṭipadā etassa dukkhassa pariññāyā”ti. “Bhaddako, āvuso, maggo bhaddikā paṭipadā, etassa dukkhassa pariññāya. Alañca panāvuso sāriputta, appamādāyā”ti.
Catutthaṁ.
“Này hiền giả, chính là Thánh đạo Tám ngành này để liễu tri khổ này, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này hiền giả, đây là con đường, đây là pháp hành để liễu tri khổ này.” “Này hiền giả, con đường thật tốt lành, pháp hành thật tốt lành, để liễu tri khổ này. Này hiền giả Sāriputta, thật là đủ để không dể duôi.” Kinh thứ tư.