- Saṁyutta Nikāya 38.2
- 1. Jambukhādakavagga
Bản dịch
SN 38.2 — Kinh Câu Hỏi Về A-la-hán
Arahattapañhāsutta
Vi-n 3 : “A-la-hán, A-la-hán”, này Hiền giả Sāriputta, được gọi là như vậy. Này Hiền giả, thế nào là A-la-hán?
—Này Hiền giả, đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, đây gọi là A-la-hán.
Vi-n 4 —Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến chứng đắc A-la-hán ấy?
—Này Hiền giả, có con đường, có đạo lộ đưa đến chứng đắc A-la-hán ấy.
Vi-n 5 —Này Hiền giả, con đường ấy là gì, đạo lộ ấy là gì đưa đến chứng đắc A-la-hán ấy?
—Này Hiền giả, đây là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến … chánh định … Này Hiền giả, đây là con đường, đây là đạo lộ đưa đến chứng đắc A-la-hán ấy.
Vi-n 6 —Này Hiền giả, hiền thiện là con đường, hiền thiện là đạo lộ đưa đến chứng đắc A-la-hán. Thật là vừa đủ, này Hiền giả, để không phóng dật.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 38.2
- 1. With Jambukhādaka
A Question About Perfection
2. Kinh Câu Hỏi Về A-la-hán.
“‘Arahattaṁ, arahattan’ti, āvuso sāriputta, vuccati. Katamaṁ nu kho, āvuso, arahattan”ti?
“Yo kho, āvuso, rāgakkhayo dosakkhayo mohakkhayo—idaṁ vuccati arahattan”ti.
“Atthi panāvuso, maggo atthi paṭipadā etassa arahattassa sacchikiriyāyā”ti?
“Atthi kho, āvuso, maggo atthi paṭipadā etassa arahattassa sacchikiriyāyā”ti.
“Katamo panāvuso, maggo katamā paṭipadā etassa arahattassa sacchikiriyāyā”ti?
“Ayameva kho, āvuso, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo etassa arahattassa sacchikiriyāya, seyyathidaṁ—
“Reverend Sāriputta, they speak of this thing called ‘perfection’. What is perfection?”
“Reverend, the ending of greed, hate, and delusion is called perfection.”
“But, reverend, is there a path and a practice for realizing this perfection?”
“There is, reverend.”
“Well, what is it?”
“It is simply this noble eightfold path, that is:
315. “Thưa hiền giả Sāriputta, người ta nói: ‘A-la-hán, A-la-hán.’ Thưa hiền giả, thế nào là A-la-hán?” “Thưa hiền giả, sự đoạn tận tham, sự đoạn tận sân, sự đoạn tận si – điều này được gọi là A-la-hán.” “Thưa hiền giả, vậy có con đường, có pháp hành để chứng ngộ quả A-la-hán này không?” “Thưa hiền giả, có con đường, có pháp hành để chứng ngộ quả A-la-hán này.” “Thưa hiền giả, con đường nào, pháp hành nào để chứng ngộ quả A-la-hán này?” “Thưa hiền giả, chính là Bát Thánh Đạo này để chứng ngộ quả A-la-hán, cụ thể là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Thưa hiền giả, đây chính là con đường, đây chính là pháp hành để chứng ngộ quả A-la-hán này.” “Thưa hiền giả, con đường thật tốt đẹp, pháp hành thật tốt đẹp để chứng ngộ quả A-la-hán này. Thưa hiền giả Sāriputta, thật đáng để không dễ duôi.” (Kinh thứ hai).
“Bhaddako, āvuso, maggo bhaddikā paṭipadā etassa arahattassa sacchikiriyāya. Alañca panāvuso sāriputta, appamādāyā”ti.
Dutiyaṁ.
“Reverend, this is a fine path, a fine practice, for realizing this perfection. Just this much is enough for diligence.”
“Thưa hiền giả Sāriputta, người ta gọi là ‘Niết-bàn, Niết-bàn’. Thưa hiền giả, thế nào là Niết-bàn?” “Thưa hiền giả, sự đoạn tận tham, sự đoạn tận sân, sự đoạn tận si – điều này được gọi là Niết-bàn.” “Thưa hiền giả, vậy có con đường nào, có pháp hành nào để chứng ngộ Niết-bàn này không?” “Thưa hiền giả, có con đường, có pháp hành để chứng ngộ Niết-bàn này.” “Thưa hiền giả, con đường nào, pháp hành nào để chứng ngộ Niết-bàn này?” “Thưa hiền giả, chính là Bát Thánh Đạo này để chứng ngộ Niết-bàn, cụ thể là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Thưa hiền giả, đây chính là con đường, đây chính là pháp hành để chứng ngộ Niết-bàn này.” “Thưa hiền giả, con đường thật tốt đẹp, pháp hành thật tốt đẹp để chứng ngộ Niết-bàn này. Thưa hiền giả Sāriputta, thật xứng đáng để không phóng dật.” (Kinh thứ nhất).