- Saṁyutta Nikāya 38.1
- 1. Jambukhādakavagga
Bản dịch
SN 38.1 — Kinh Câu Hỏi Về Niết Bàn
Nibbānapañhāsutta
Vi-n 1 Một thời, Tôn giả Sāriputta trú ở giữa dân chúng Magadha (Ma-kiệt-đà), làng Nālaka.
Vi-n 2 Rồi du sĩ Jambukhàdaka đi đến Tôn giả Sāriputta; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sāriputta những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi một bên, du sĩ Jambukhàdaka nói với Tôn giả Sāriputta:
: “Niết-bàn, Niết-bàn”, này Hiền giả Sāriputta, như vậy được nói đến. Này Hiền giả, thế nào là Niết-bàn?
—Này Hiền giả, đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, đây gọi là Niết-bàn.
Vi-n 4 —Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến chứng đắc Niết-bàn?
—Này Hiền giả, có con đường có đạo lộ đưa đến chứng đắc Niết-bàn ấy.
Vi-n 5 —Này Hiền giả, con đường ấy là gì, đạo lộ ấy là gì đưa đến chứng đắc Niết-bàn?
—Này Hiền giả, đây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến chứng đắc Niết-bàn ấy, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này Hiền giả, đây là con đường, đây là đạo lộ đưa đến chứng đắc Niết-bàn ấy.
Vi-n 6 —Này Hiền giả, hiền thiện là con đường, hiền thiện là đạo lộ đưa đến chứng đắc Niết-bàn. Thật là vừa đủ, này Hiền giả, để không phóng dật.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 38.1
- 1. With Jambukhādaka
A Question About Extinguishment
1. Kinh Câu Hỏi Về Niết Bàn.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā sāriputto magadhesu viharati nālakagāmake. Atha kho jambukhādako paribbājako yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā sāriputtena saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho jambukhādako paribbājako āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca:
At one time Venerable Sāriputta was staying in the land of the Magadhans near the little village of Nālaka. Then the wanderer Jambukhādaka went up to Venerable Sāriputta and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to Sāriputta:
314. Một thời, Tôn giả Sāriputta trú ở xứ Magadha, tại làng Nālaka. Lúc bấy giờ, du sĩ Jambukhādaka đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta; sau khi đến, vị ấy đã cùng với Tôn giả Sāriputta chào hỏi thân mật. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện và đáng ghi nhớ, vị ấy ngồi xuống một bên. Sau khi đã ngồi xuống một bên, du sĩ Jambukhādaka đã nói điều này với Tôn giả Sāriputta:
“‘Nibbānaṁ, nibbānan’ti, āvuso sāriputta, vuccati. Katamaṁ nu kho, āvuso, nibbānan”ti?
“Yo kho, āvuso, rāgakkhayo dosakkhayo mohakkhayo—idaṁ vuccati nibbānan”ti.
“Atthi panāvuso, maggo atthi paṭipadā etassa nibbānassa sacchikiriyāyā”ti?
“Atthi kho, āvuso, maggo atthi paṭipadā etassa nibbānassa sacchikiriyāyā”ti.
“Katamo panāvuso, maggo katamā paṭipadā etassa nibbānassa sacchikiriyāyā”ti?
“Ayameva kho, āvuso, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo etassa nibbānassa sacchikiriyāya, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto sammāājīvo sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhi. Ayaṁ kho, āvuso, maggo ayaṁ paṭipadā etassa nibbānassa sacchikiriyāyā”ti.
“Bhaddako, āvuso, maggo bhaddikā paṭipadā etassa nibbānassa sacchikiriyāya. Alañca panāvuso sāriputta, appamādāyā”ti.
Paṭhamaṁ.
“Reverend Sāriputta, they speak of this thing called ‘extinguishment’. What is extinguishment?”
“Reverend, the ending of greed, hate, and delusion is called extinguishment.”
“But, reverend, is there a path and a practice for realizing this extinguishment?”
“There is, reverend.”
“Well, what is it?”
“It is simply this noble eightfold path, that is: right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion. This is the path, the practice, for realizing this extinguishment.”
“Reverend, this is a fine path, a fine practice, for realizing this extinguishment. Just this much is enough for diligence.”
“Thưa hiền giả Sāriputta, người ta gọi là ‘Niết-bàn, Niết-bàn’. Thưa hiền giả, thế nào là Niết-bàn?” “Thưa hiền giả, sự đoạn tận tham, sự đoạn tận sân, sự đoạn tận si – điều này được gọi là Niết-bàn.” “Thưa hiền giả, vậy có con đường nào, có pháp hành nào để chứng ngộ Niết-bàn này không?” “Thưa hiền giả, có con đường, có pháp hành để chứng ngộ Niết-bàn này.” “Thưa hiền giả, con đường nào, pháp hành nào để chứng ngộ Niết-bàn này?” “Thưa hiền giả, chính là Bát Thánh Đạo này để chứng ngộ Niết-bàn, cụ thể là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Thưa hiền giả, đây chính là con đường, đây chính là pháp hành để chứng ngộ Niết-bàn này.” “Thưa hiền giả, con đường thật tốt đẹp, pháp hành thật tốt đẹp để chứng ngộ Niết-bàn này. Thưa hiền giả Sāriputta, thật xứng đáng để không phóng dật.” (Kinh thứ nhất).