- Saṁyutta Nikāya 38.15
- 1. Jambukhādakavagga
Bản dịch
SN 38.15 — Kinh Vấn Đáp Về Thân Kiến
Sakkāyapañhāsutta
Vi-n 3 : “Có thân, có thân”, này Hiền giả Sāriputta, được nói đến như vậy. Này Hiền giả, thế nào là có thân?
—Năm uẩn này, này Hiền giả, được Thế Tôn gọi là có thân: sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn và thức thủ uẩn. Này Hiền giả, những thủ uẩn này được Thế Tôn gọi là có thân.
Vi-n 4 —Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến liễu tri có thân ấy?
—Này Hiền giả, có con đường, có đạo lộ đưa đến liễu tri có thân ấy.
Vi-n 5-6. (như kinh trước, số 5 và số 6, với những thay đổi cần thiết).
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 38.15
- 1. With Jambukhādaka
A Question About Substantial Reality
15. Kinh Vấn Đáp Về Thân Kiến
“‘Sakkāyo, sakkāyo’ti, āvuso sāriputta, vuccati. Katamo nu kho, āvuso, sakkāyo”ti?
“Pañcime, āvuso, upādānakkhandhā sakkāyo vutto bhagavatā, seyyathidaṁ—rūpupādānakkhandho, vedanupādānakkhandho, saññupādānakkhandho, saṅkhārupādānakkhandho, viññāṇupādānakkhandho. Ime kho, āvuso, pañcupādānakkhandhā sakkāyo vutto bhagavatā”ti.
“Atthi panāvuso, maggo atthi paṭipadā, etassa sakkāyassa pariññāyā”ti?
“Atthi kho, āvuso, maggo atthi paṭipadā, etassa sakkāyassa pariññāyā”ti.
“Katamo panāvuso, maggo katamā paṭipadā, etassa sakkāyassa pariññāyā”ti? “Ayameva kho, āvuso, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, etassa sakkāyassa pariññāya, seyyathidaṁ—
“Reverend Sāriputta, they speak of this thing called ‘substantial reality’. What is substantial reality?”
“Reverend, the Buddha said that these five grasping aggregates are substantial reality. That is, form, feeling, perception, choices, and consciousness. The Buddha said that these five grasping aggregates are substantial reality.”
“But, reverend, is there a path and a practice for completely understanding this substantial reality?”
“There is.” …
328. “Thưa hiền giả Sāriputta, người ta nói: ‘Thân kiến, thân kiến’. Thưa hiền giả, vậy thế nào là thân kiến?” “Này hiền giả, năm thủ uẩn này được Thế Tôn gọi là thân kiến, đó là: sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, và thức thủ uẩn. Này hiền giả, năm thủ uẩn này được Thế Tôn gọi là thân kiến.” “Thưa hiền giả, có con đường nào, có pháp hành nào để liễu tri thân kiến này không?” “Này hiền giả, có con đường, có pháp hành để liễu tri thân kiến này.” “Thưa hiền giả, con đường ấy là gì, pháp hành ấy là gì để liễu tri thân kiến này?” “Này hiền giả, chính là Thánh đạo Tám ngành này để liễu tri thân kiến, đó là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này hiền giả, đây chính là con đường, đây chính là pháp hành để liễu tri thân kiến này.” “Lành thay, thưa hiền giả, con đường! Lành thay, pháp hành để liễu tri thân kiến này! Thưa hiền giả Sāriputta, thật là thích đáng để không dể duôi.” (Kinh thứ mười lăm).
Pannarasamaṁ.
327. “Này hiền giả Sāriputta, người ta nói: ‘Khổ, khổ’. Vậy, này hiền giả, khổ là gì?”. “Này hiền giả, có ba loại khổ tánh này: Khổ khổ tánh, hành khổ tánh, và hoại khổ tánh. Này hiền giả, đây là ba loại khổ tánh”. “Này hiền giả, có con đường, có pháp hành để liễu tri các khổ tánh này không?”. “Này hiền giả, có con đường, có pháp hành để liễu tri các khổ tánh này”. “Này hiền giả, con đường nào, pháp hành nào để liễu tri các khổ tánh này?”. “Này hiền giả, chính là Thánh đạo Tám ngành này để liễu tri các khổ tánh này, tức là: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này hiền giả, đây là con đường, đây là pháp hành để liễu tri các khổ tánh này”. “Lành thay, này hiền giả, con đường! Lành thay, pháp hành để liễu tri các khổ tánh này! Này hiền giả Sāriputta, thật thích hợp để không dể duôi”. Kinh thứ mười bốn.