- Saṁyutta Nikāya 38.14
- 1. Jambukhādakavagga
Bản dịch
SN 38.14 — Kinh Vấn Đáp Về Khổ
Dukkhapañhāsutta
Vi-n 3 : “Khổ, khổ”, này Hiền giả Sāriputta, được nói đến như vậy. Này Hiền giả, thế nào là khổ?
—Có ba khổ tánh này, này Hiền giả, khổ khổ tánh, hành khổ tánh, hoại khổ tánh. Này Hiền giả, đây là ba khổ tánh này.
Vi-n 4 —Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến liễu tri các khổ tánh ấy?
—Này Hiền giả, có con đường có đạo lộ đưa đến đoạn tận các khổ tánh ấy.
Vi-n 5-6. (như kinh trước, số 5 và số 6, với những thay đổi cần thiết).
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 38.14
- 1. With Jambukhādaka
A Question About Suffering
14. Kinh Vấn Đáp Về Khổ
“‘Dukkhaṁ, dukkhan’ti, āvuso sāriputta, vuccati. Katamaṁ nu kho, āvuso, dukkhan”ti?
“Tisso imā, āvuso, dukkhatā. Dukkhadukkhatā, saṅkhāradukkhatā, vipariṇāmadukkhatā—imā kho, āvuso, tisso dukkhatā”ti.
“Atthi panāvuso maggo atthi paṭipadā, etāsaṁ dukkhatānaṁ pariññāyā”ti?
“Atthi kho, āvuso, maggo atthi paṭipadā, etāsaṁ dukkhatānaṁ pariññāyā”ti.
“Katamo panāvuso, maggo katamā paṭipadā, etāsaṁ dukkhatānaṁ pariññāyā”ti? “Ayameva kho, āvuso, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, etāsaṁ dukkhatānaṁ pariññāya, seyyathidaṁ—
“Reverend Sāriputta, they speak of this thing called ‘suffering’. What is suffering?”
“Reverend, there are these three forms of suffering. The suffering inherent in painful feeling; the suffering inherent in conditions; and the suffering inherent in perishing. These are the three forms of suffering.”
“But, reverend, is there a path and a practice for completely understanding these forms of suffering?”
“There is.” …
327. “Này hiền giả Sāriputta, người ta nói: ‘Khổ, khổ’. Vậy, này hiền giả, khổ là gì?”. “Này hiền giả, có ba loại khổ tánh này: Khổ khổ tánh, hành khổ tánh, và hoại khổ tánh. Này hiền giả, đây là ba loại khổ tánh”. “Này hiền giả, có con đường, có pháp hành để liễu tri các khổ tánh này không?”. “Này hiền giả, có con đường, có pháp hành để liễu tri các khổ tánh này”. “Này hiền giả, con đường nào, pháp hành nào để liễu tri các khổ tánh này?”. “Này hiền giả, chính là Thánh đạo Tám ngành này để liễu tri các khổ tánh này, tức là: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này hiền giả, đây là con đường, đây là pháp hành để liễu tri các khổ tánh này”. “Lành thay, này hiền giả, con đường! Lành thay, pháp hành để liễu tri các khổ tánh này! Này hiền giả Sāriputta, thật thích hợp để không dể duôi”. Kinh thứ mười bốn.
Cuddasamaṁ.
326. “Này hiền giả Sāriputta, người ta nói: ‘Hữu, hữu’. Vậy, này hiền giả, hữu là gì?”. “Này hiền giả, có ba loại hữu này: Dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu. Này hiền giả, đây là ba loại hữu”. “Này hiền giả, có con đường, có pháp hành để liễu tri các hữu này không?”. “Này hiền giả, có con đường, có pháp hành để liễu tri các hữu này”. “Này hiền giả, con đường nào, pháp hành nào để liễu tri các hữu này?”. “Này hiền giả, chính là Thánh đạo Tám ngành này để liễu tri các hữu này, tức là: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này hiền giả, đây là con đường, đây là pháp hành để liễu tri các hữu này”. “Lành thay, này hiền giả, con đường! Lành thay, pháp hành để liễu tri các hữu này! Này hiền giả Sāriputta, thật thích hợp để không dể duôi”. Kinh thứ mười ba.