- Saṁyutta Nikāya 38.13
- 1. Jambukhādakavagga
Bản dịch
SN 38.13 — Kinh Vấn Đáp Về Hữu
Bhavapañhāsutta
Vi-n 3 : “Hữu, hữu”, này Hiền giả Sāriputta, như vậy được nói đến. Này Hiền giả, thế nào là hữu?
—Có ba hữu này, này Hiền giả, dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu. Này Hiền giả, đây là các hữu này.
Vi-n 4 —Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến đoạn tận các hữu ấy?
—Này Hiền giả, có con đường, có đạo lộ đưa đến đoạn tận các hữu ấy.
Vi-n 5-6. (Như kinh trước, số 5 và số 6, với những thay đổi cần thiết).
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 38.13
- 1. With Jambukhādaka
A Question About States of Existence
13. Kinh Vấn Đáp Về Hữu
“‘Bhavo, bhavo’ti, āvuso sāriputta, vuccati. Katamo nu kho, āvuso, bhavo”ti?
“Tayome, āvuso, bhavā. Kāmabhavo, rūpabhavo, arūpabhavo—ime kho, āvuso, tayo bhavā”ti.
“Atthi panāvuso, maggo atthi paṭipadā, etesaṁ bhavānaṁ pariññāyā”ti?
“Atthi kho, āvuso, maggo atthi paṭipadā, etesaṁ bhavānaṁ pariññāyā”ti.
“Katamo, panāvuso, maggo katamā paṭipadā, etesaṁ bhavānaṁ pariññāyā”ti? “Ayameva kho, āvuso, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, etesaṁ bhavānaṁ pariññāya, seyyathidaṁ—
“Reverend Sāriputta, they speak of this thing called ‘continued existence’. What is continued existence?”
“Reverend, there are these three states of continued existence. Existence in the sensual realm, the realm of luminous form, and the formless realm. These are the three states of continued existence.”
“But, reverend, is there a path and a practice for completely understanding these three states of existence?”
“There is.” …
326. “Này hiền giả Sāriputta, người ta nói: ‘Hữu, hữu’. Vậy, này hiền giả, hữu là gì?”. “Này hiền giả, có ba loại hữu này: Dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu. Này hiền giả, đây là ba loại hữu”. “Này hiền giả, có con đường, có pháp hành để liễu tri các hữu này không?”. “Này hiền giả, có con đường, có pháp hành để liễu tri các hữu này”. “Này hiền giả, con đường nào, pháp hành nào để liễu tri các hữu này?”. “Này hiền giả, chính là Thánh đạo Tám ngành này để liễu tri các hữu này, tức là: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này hiền giả, đây là con đường, đây là pháp hành để liễu tri các hữu này”. “Lành thay, này hiền giả, con đường! Lành thay, pháp hành để liễu tri các hữu này! Này hiền giả Sāriputta, thật thích hợp để không dể duôi”. Kinh thứ mười ba.
Terasamaṁ.
325. “Này hiền giả Sāriputta, người ta nói: ‘Thủ, thủ’. Vậy, này hiền giả, thủ là gì?”. “Này hiền giả, có bốn loại thủ này: Dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, ngã luận thủ. Này hiền giả, đây là bốn loại thủ”. “Này hiền giả, có con đường, có pháp hành để đoạn trừ các thủ này không?”. “Này hiền giả, có con đường, có pháp hành để đoạn trừ các thủ này”. “Này hiền giả, con đường nào, pháp hành nào để đoạn trừ các thủ này?”. “Này hiền giả, chính là Thánh đạo Tám ngành này để đoạn trừ các thủ này, tức là: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này hiền giả, đây là con đường, đây là pháp hành để đoạn trừ các thủ này”. “Lành thay, này hiền giả, con đường! Lành thay, pháp hành để đoạn trừ các thủ này! Này hiền giả Sāriputta, thật thích hợp để không dể duôi”. Kinh thứ mười hai.